Đăng Nhập

 Bảo tồn cảnh quan hệ sinh thái đa dạng loài và gen, đa dạng văn hóa

Bảo tồn cảnh quan hệ sinh thái đa dạng loài và gen, đa dạng văn hóa truyền thống
1. Vườn Quốc gia Pù Mát (Vùng lõi 1)
2. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (Vùng lõi 2)
3. Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt (Vùng lõi 3)
4. Đa dạng văn hoá

Bảng: Xếp hạng ưu tiên theo hệ thống tiêu chí trong hệ thống bảo tồn
(1: thấp nhất; 2: thấp; 3: trung bình; 4: cao; 5: cao nhất)

 

VQG Pù Mát

Khu BTTN Pù Huống

Khu BTTN Pù Hoạt

Địa chất

3

1

3

Cảnh quan

4

3

3

Đa dạng sinh học

5

4

5

Độ che phủ rừng

5

4

5

Giá trị sinh cảnh rừng

5

3

5

Nguồn gen loài

5

3

4

Qui mô diện tích tự nhiên

5

5

4

Mức độ khả thi tích cực

5

5

4

Tổng điểm

39/40

28/40

33/40

Nguồn: Võ Trí Chung, 2005.
1. Vườn Quốc gia Pù Mát (Vùng lõi 1)
Pù Mát là khu vực còn rừng tự nhiên lớn nhất và tiêu biểu của Nghệ An nói riêng và Bắc Trường Sơn nói chung, là nơi có thành phần thực vật phong phú và đa dạng vào loại bậc nhất Việt Nam. Nơi đây đang lưu giữ nhiều nguồn gen quý về động vật, thực vật, là nơi hội tụ các yếu tố địa lý thực vật.
1.1. Đa dạng hệ sinh thái và cảnh quan: Xếp theo hệ thống phân loại của UNESCO 1973 thì Vườn quốc gia Pù Mát có đầy đủ đại diện của 4/5 lớp quần hệ, đó là lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi và lớp quần hệ cây thảo.
Lớp quần hệ rừng kín: Đại diện cho lớp quần hệ này có 2 quần hệ tiêu biểu là quần hệ rừng kín thường xanh nhiệt đới gió mùa ở địa hình thấp dưới 800 m và quần hệ rừng kín thường xanh á nhiệt đới gió mùa ở núi thấp (800 – 1000 m).                     
Quần hệ rừng kín thường xanh nhiệt đới gió mùa ở địa hình thấp dưới 800 m: bao gồm phân quần hệ rừng kín thường xanh nhiệt đới gió mùa trên đất địa hình thấp và phân quần hệ rừng kín thường xanh nhiệt đới gió mùa trên núi đá vôi.
-  Phân quần hệ rừng kín thường xanh nhiệt đới gió mùa trên đất địa hình thấp: Loại rừng này chiếm ưu thế ở vành đai dưới 800 m và là loại hình rừng đặc trưng của Bắc Trường Sơn xưa kia bao phủ phần lớn diện tích Tây Nghệ An-Hà Tĩnh. Các loài thực vật chủ yếu ở phân quần hệ này là Chò chỉ (Parashorea chinensis), các loài Sao (Hopea), Vàng tâm (Manglietia fordiana), Gội nếp (Aglaia spectabilis), Trám hồng (Canarium bengalense), Re (Cinnamomum sp.), Trâm (Syzygium sp.), Nhội (Bischofia javanica), Sến mật (Madhuca pasquieri), Dẻ (Castanopsis spp., Lythocarpus spp.). Cấu trúc loại  hình rừng này thường có 5 tầng (A1, A2, A3, B, C). Tầng A1 thường cao 35-40 m bao gồm các cây gỗ lớn, phân bố không đều, thiếu liên tục, độ tàn che của tầng này thấp.
-  Phân quần hệ rừng kín thường xanh nhiệt đới gió mùa trên đất đá vôi: Loại rừng này nằm xen giữa vùng núi đất kéo dài từ Đỉnh Sơn (huyện Anh Sơn) chạy dọc theo đường số 7 thuộc huyện Con Cuông đến Tam Đình (huyện Tương Dương). Các loài thường gặp ở loại rừng này là Garcinia sp., Lát hoa (Chukrasia tabularis), Giâu gia xoan (Allospondias lakonensis), Gội nếp (Aglaia spectabilis), Trương hôi (Tapiscia), Máu chó bắc bộ (Knema tonkinensis), Kim giao (Nageia fleuryi), Sấu (Dracontomelon duperreanum), Lọ nồi trung bộ (Hydnocarpus annamensis), Vàng anh (Saraca dives). Cấu trúc rừng thường có 4 tầng, tầng nhô không thể hiện rõ.
Quần hệ rừng kín thường xanh nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa ở núi thấp (800-1600 m): Đại diện cho quần hệ này có các phân quần hệ sau:
-  Phân quần hệ rừng kín thường xanh nhiệt đới  gió mùa cây lá rộng: Các loài cây gỗ thường gặp ở phân quần hệ này là Lithocarpus pseudosundaicus, Castanopsis hystrix, Syzygium ripicolum, Hopea mollissima, Vatica cinerea, Madhuca pasquieri, Canarium thorelianum, Pterospermum heterophyllum, Gironniera subaequalis.
-  Phân quần hệ rừng kín thường xanh á nhiệt đới gió mùa hỗn giao cây lá rộng, lá kim: Loại rừng này phân bố chủ yếu ở độ cao trên 1000m. Các loài thường gặp là: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Kim giao (Nageia wallichiana), Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Thông lông gà (Dacrycarpus imbricatus), Mắc niễng (Eberhardtia aurata), Giổi lá láng (Michelia foveolata), Đinh (Markhamia sp.), Sến mật (Madhuca pasquieri), Côm (Elaeocarpus sp.).
1.2. Đa dạng loài và vốn gen:
Khu hệ thực vật: Trong số gần 2500 loài đã biết thì có gần 2000 loài thuộc nhóm chồi trên mặt đất (Phanerophytes - Ph) chiếm tỷ lệ 74%. Đây là dạng sống chiếm ưu thế và là yếu tố chủ đạo cấu thành hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa ở Việt Nam.
Khu hệ động vật: Các loài thú mới được phát hiện ở đây: Sao La (Pseudoryx nghetinhensis), Mang Lớn (Megamuntiacus vuquangensis), Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis), Thỏ vằn Trường sơn (Nesolagus sp) đã làm sửng sốt các nhà khoa học trong và ngoài nước. Hiện có 130 loài thú lớn và nhỏ; 295 loài chim, 54 loài lưỡng cư và bò sát, 84 loài cá, 39 loài dơi ( có những loài dơi chỉ có duy nhất ở Việt Nam và Đông Bắc Thái Lan), 305 loài bướm ngày, 14 loài rùa, hàng ngàn loài côn trùng khác. Trong đó có 68 loài quý hiếm được ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam. Đây là nơi đang lưu giữ vốn gen quý của hệ động thực vật Việt Nam
Bướm ngày có 305 loài, thuộc 11 họ; Bướm sừng (Sphingidae) có 83 loài; Bướm hoàng đế (Saturniidae) có 11 loài. Trong số 305 loài bướm ngày thì có 7 loài trước đây chưa được biết đến ở Việt Nam, có 2 loài (loài chính và 1 loài phụ) vẫn chưa được mô tả. Một trong số các loài đó  Papilo noblei  được liệt kê vào phần “Dữ liệu thiếu hụt” (IUCN) và trong bản Phụ lục 1 của CITES. Bốn loài Bướm sừng Sphingidae (bướm đêm) ở Pù Mát được xem là loài mới đối với Việt Nam là Dolbina inexacta, Callambulyx poecilus, macroglossum frizei và Phyllosphingia dissimilis.
Lớp Cá có 82 loài, thuộc 19 họ trong số 544 loài cá nước ngọt có ở Việt Nam; Lớp Lưỡng cư có 23 loài, thuộc 5 họ, 1 bộ, trong số 162 loài có ở Việt Nam; Lớp Bò sát có 50 loài, thuộc 10 họ, 2 bộ (trong đó có 15 loài rùa) trong số 296 loài có ở Việt Nam; Lớp chim có 295 loài trong số 850 loài có ở Việt Nam; Lớp thú có 85 loài, thuộc 20 họ, 8 bộ (trong đó có 39 loài dơi) trong số gần 300 loài có ở Việt Nam.
Có 73 loài lưỡng cư và bò sát được thu thập trong các điều tra năm 1998 và thường xuyên được bổ sung cho đến hiện nay. Các loài mới khảo sát là 23 loài ếch nhái, 11 loài rùa, 12 loài thằn lằn và 25 loài rắn.
Trong tổng số 295 loài chim kể cả chim bản địa và chim di cư có 22 loài được xem là những loài đang bị đe doạ và có nguy cơ bị đe doạ toàn cầu (Collar et al., 1994). Hai quần thể Trĩ sao (Rheinardia ocellata) và Hồng hoàng (Buceros bicornis), Niệc Cổ Hung (Aceros nipalensis) có tầm quan trọng quốc tế, Diều Cá Bé (Ichthyophaga humilis) có tầm quan trọng bảo tồn quốc gia. Các đợt điều tra nghiên cứu đang được tiếp tục triển khai tập trung ở khu vực rừng hỗn giao lá kim, đặc biệt là những nơi có khả năng có sự phân bố của quần thể Sitta formasa.
Thú nhỏ (bộ gặm nhấm và thú ăn côn trùng) có 20 loài được xác định thì có 2 loài được IUCN (IUCN-1996) xem là đang bị đe doạ đó là Rattus remotus và L. neilli. Trong số 39 loài dơi được xác định có 7 loài được xem là loài đang có nguy cơ bị đe doạ và nằm trong “Dữ liệu thiếu hụt” (IUCN 1996).
Thỏ vằn Trường Sơn (Nesolagus sp), Cầy vằn bắc (Chrotogale awstoni) và Mang đen Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) có ý nghĩa bảo tồn rất lớn. Quần thể Vượn Má Trắng (Hylobates leucogenys/gabriellae), Quần thể Sóc Bụng Xám (Callosciurus inornatus), Voọc Vá (Pygathrix nemaeus) là những phát hiện mới tại VQG Pù Mát. Ở đây còn sót lại quần thể Voi Châu Á (Elephas maximus) lớn nhất hiện còn lại ở Việt Nam.
Theo điều tra đến thời điểm hiện tại, có 42 loài thú lớn đã được xác định là có xuất hiện trong Khu bảo tồn. Trong đó có 21 loài được xem là loài chính theo khoá loài của Eve et al. (1998), và 20 loài được xếp vàp cấp độ bị đe doạ, có nguy cơ bị đe doạ, hoặc dữ liệu thiếu hụt của IUCN (1996). Có ba loài, trong đó hai loài đã được xác định và một loài chưa được xác định, nhưng có khả năng xuất hiện trong Khu bảo tồn nên được đưa vào trong danh lục loài chính trong báo cáo của Eve et al. (1998). Những loài này là Viverra tainguensis, Sus bucculentus và loài chưa được mô tả là Nesolagus.
Số lượng các loài quí hiếm ở VQG Pù Mát có trong Sách Đỏ Việt Nam (năm 2000) bao gồm lớp Lưỡng cư có 1 loài; Lớp Bò sát có 19 loài (có 12 loài trong Nghị Định 48/2002/NĐ-CP và 10 loài trong Danh lục Đỏ IUCN);  Lớp Chim có 35 loài; Lớp thú có 34 loài. Tổng: 89 loài (41,35% số loài theo SĐVN). Những loài có ý nghĩa Bảo tồn (Bậc E trong SĐVN), Lớp thú gồm 15 loài:Voọc Hà tĩnh (Tranchipithecus hatinhensis); Voọc vá (Pygathrix nemaeus), Voọc mông trắng (Tranchipithecus francoisi delacouri), Vượn đen tuyền (Hylobates concolor concolor), Vượn đen bạc má (Hylobates concolor leucogenis), Sói đỏ (Cuon alpinus), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Gấu chó (Helarctos malayanus), Cầy giông sọc (Vivera zibetha), Mèo lửa (Catopuma temmincki), Báo hoa mai (Panthera pardus), Hổ (Panthera tigris), Voi (Elephas maximus), Bò tót (Bos gaurus), Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis); Lớp Chim 4 loài: Trĩ sao (Rheinardia ocellata), Gà lôi trắng (Lophura nycthemera), Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura nycthemera), Niệc cổ hung (Aceros nipalensis); Lớp bò sát 1 loài: Rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah); Lớp cá xương 1 loài: Cá pạo (Labeo graffeuilli)
2. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (Vùng lõi 2)
2.1. Đa dạng hệ sinh thái và cảnh quan
Khu bảo tồn này nằm trong phạm vi các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam và Đông Bắc-Tây Nam với đỉnh cao nhất là Pù Hon cao 1447 m. Tuy diện tích không lớn bằng Vườn quốc gia Pù Mát nhưng ở đây có đủ các loại hình thảm thực vật đã có mặt ở Pù Mát.
Rừng nguyên sinh: Đây là loại rừng kín thường xanh á nhiệt đới: Thành phần thực vật chủ yếu là Pơ mu (Fokienia hodginsii) có đường kính đạt tới 100-200 cm, Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii) và Sồi lá mỏng (Quercus blakei). Ngoài ra còn có các loài Sến mật (Madhuca pasquieri), Táu muối (Vatica diospyroides)… Tầng thực vật mục khá dày, đôi chỗ xen lẫn các loài Giang (Dendrocalamus patellaris), Sặt (Arundinaria). Thành phần thực vật tầng cao chủ yếu là Sến mật (Madhuca pasquieri), Táu (Hopea mollissima), Giổi xanh (Michelia mediocris), Trường mật (Amesiodendron chinense)…Tầng dưới tán gặp các loài Bời lời ba vì (Litsea baviensis), Bời lời lá tròn (Actinodaphne chinensis), Côm (Elaeocarpus sp.), Máu chó bắc bộ (Knema tonkinensis), Sồi sim (Quercus glauca), Cà ổi (Castanopsis ferox), Ràng ràng (Ormosia pinnata)…Vùng này gần như chưa thấy hoạt động khai thác gỗ.
Trong loại hình rừng nguyên sinh thì rừng lùn thường gặp ở đỉnh tam giác Pù Huống có diện tích hẹp, có thân cây cằn cỗi, cây có Rêu, Phong lan bám đầy. Có các loại cây điển hình là: Đỗ Quyên (Rhododendron arboreum), Sơn liễu (Clethra sp), Sặt (Arundinaria), Truông treo (Enkianthus sp.)… Tầng rừng chỉ cao không quá 5 m, đường kính cây gỗ nhỏ dưới 30 cm, cây lá nhỏ gỗ cứng. Kiểu rừng này có tầng thảm mục chưa phân hoá luôn có mây che phủ ẩm ướt và lạnh.
Ngoài ra rừng núi đá phụ ít bị tác động, vẫn còn giữ nhiều nét nguyên vẹn và hiểm trở có các loài thực vật phổ biến như Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Sến mật (Madhuca pasquieri), Trâm núi (Syzygium sp.), Gội núi (Aglaia perviridis)… Đây là điểm phân bố và cư trú chủ yếu của các loài Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Sơn dương (Naemorhedus sumatraensis).
Rừng thứ sinh: Ở độ cao 500 m, chủ yếu là loài Chò chỉ (Parashorea chinensis) chiếm ưu thế trên đất ven suối. Kiểu rừng này có các loài ưu thế tầng cao như Trường mật (Amesiodendron chinense), Lát (Chukrasia tabularis), Sến mật (Madhuca pasquieri), Giổi xanh (Michelia mediocris). Thành phần thực vật tán cao gặp chủ yếu là Sến mật (Madhuca pasquieri), Re (Cinnamomum sp.), Trường mật (Amesiodendron chinense), Cà ổi (Castanopsis ferox). Ở tầng thấp gặp chủ yếu các loài Giang (Dendrocalamus patellaris), Sặt (Arundinaria). Trong loại rừng thứ sinh thì rừng tre nứa phân bố rộng, rải rác khắp hai sườn núi. Đây là kiểu rừng xuất hiện sau nương rẫy và chiếm một diện tích khá lớn trên tuyến khảo sát. Xen lẫn với rừng tre nứa vẫn có các loại thân gỗ nhỏ, một số các loài thực vật khác: Ràng ràng mít (Ormosia balansae), Bời lời ba vì (Litsea baviensis), Sim (Rhodomyrtus), Mua (Melastomataceae)…
2.2. Đa dạng loài và vốn gen
Tại Pù Huống, quần hệ rừng á nhiệt đới núi thấp (800-1600 m) với thành phần thực vật đặc trưng của vùng khí hậu hơi lạnh như Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông tre (Podocarpus neriioflius), Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii), Đỉnh tùng (Cephalotaxus manii) cùng với các đại diện thực vật phía Bắc như họ Thích (Aceraceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Chè (Theaceae), họ Hồi (Illiciaceae). Sự có mặt của Đỉnh tùng (Cephalotaxus manii) là điểm đặc biệt của vùng này.Điểm đặc biệt cần nhắc đến là thảm thực vật rừng trên núi đá vôi Pù Huống rất đặc trưng gồm các loài mang tính chỉ thị như Trai lý (Garcinia fagraeoides), Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Đinh (Markhamia stipulata), Ruối ô rô (Streblus ilicifolius), Mạy tèo (Taxotrophis macrophylla). Theo thống kê sơ bộ thì ở đây có khoảng 1200 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 533 chi của 138 họ, trong đó có 33 loài quý hiếm đã ghi trong Sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ.
Số loài động vật đã phát hiện được ở Pù Huống bao gồm: Lớp Lưỡng cư có 17( 25) loài, thuộc 6 họ, 1 bộ; Lớp Bò sát có 35 (62) loài, thuộc 14 (15) họ, 2 bộ, trong đó có 13 loài rùa; Lớp Chim có 176 loài, thuộc 42 họ, 7 bộ; Lớp Thú có 63 loài, thuộc 24 họ. Số loài trong Sách Đỏ VN 2000: Lớp Lưỡng cư có 1 (3) loài; Lớp Bò sát có 10 (16) loài. Trong đó có 14 loài trong Nghị định 48/2002/NĐ-CP và 13 loài trong Danh lục Đỏ IUCN bao gồm Lớp Chim có 11 loài, Lớp Thú có 26 (27) loài và tổng số có 48 loài quí hiếm chiếm 22,32%  số loài theo SĐVN. Có 8 loài quý hiếm và đặc hữu là Voọc đen Hà Tĩnh (Tranchipithecus hatinhensis), Voọc mông trắng (Tranchipithecus francoisi delacouri), Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), Vượn đen tuyền (Hylobates concolor concolor), Chà vá (Pygathrix nenacus), Báo hoa mai (Panthera pardus), Trĩ sao (Rheinardia) và Gà lôi trắng (Lophura nycthemera).
3. Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt (Vùng lõi 3)
Theo kết quả khảo sát sơ bộ của đoàn điều tra hỗn hợp Frontier - Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật năm 1999 thì diện tích rừng tự nhiên ở đây còn khá lớn (>56.000 ha) trong đó có 34.000 ha rừng tự nhiên ít bị tác động.

3.1. Đa dạng hệ sinh thái và cảnh quan
Đại diện của 4 lớp quần hệ là rừng kín, rừng thưa, thảm cây bụi, thảm cỏ đều có mặt ở đây, đặc tính nguyên sinh của rừng ở đây còn cao. Ở độ cao trên 2000 m thường có mặt các đại diện của hệ thực vật á nhiệt đới và ôn đới như họ Thích (Aceraceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Chè (Theaceae).
Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi cao hỗn giao cây lá rộng với cây lá kim: Diện tích 2 682 ha phân bố ở các đai cao trên 1600m của các khối núi Pù Hoạt, Pù Pha Lông, Pù Pha Nhà, Pù Cao Mạ. Kiểu rừng này ít bị tác động, tính nguyên sinh còn cao. Thực vật chiếm ưu thế là cây lá rộng, cây lá kim. Các Họ thực vật  ưu thế là Lauraceae, Fagaceae, Theaceae, Araliaceae, Aceraceae, Rosaceae, Orchidaceae ; các họ hạt trần: Cupressaceae, Taxodiaceae, Podocarpaceae với các loài điển hình như Re (Cinnamomum liangi, C. iners, C. cambodianum, C. litseaefolium), Chắp (Beilschmiedia), Bời lời (Litsea mollis, L. aurata, L. garrettii), Kháo (Machilus), Cà ổi (Castanopsis ferox), Dẻ đá quả gỗ (Lithocarpus corneus, L. coalitus), Dẻ lá tre (Quercus bambusaefolia), Sồi quả dẹt (Quercus helferiana), Sum đỏ (Adinandra hainanensis), Linh (Eurya japonica), Gỗ hà (Schima wallichii), Cù đèn (Croton maieuticus), Trám trẩu (Mytilaria laosensis), Chắp (Symingtonia tonkinensis), Mạy châu (Carya tonkinensis), Giổi lụa (Tsoongiodendron odorum), Tì bà (Eriobotrya cavaleriei), Cổ phỏng (Photinia arguta), Tô hạp (Altingia excelsa), Sến mật (Madhuca pasquieri), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông lông gà (Dacrycarpus imbricatus), Kim giao (Nageia fleuryii), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Bách xanh (Calocedrus macrolepsis), và Sa mộc dầu  (Cunninghamia konishii). Rừng chia thành 3 tầng, tầng ưu thế  sinh thái tạo thành tán rừng với các loài cây lá rộng kể trên và các loài lá kim: Kim giao (Nageia wallichiana) và Thông lông gà (Dacrycarpus imbricatus).
Kiểu phụ rừng Lùn (Elfin forest) độ cao trên 2300m của đỉnh Pù Hoạt với diện tích 200 ha luôn có mây mù bao phủ, độ ẩm cao, gió thổi mạnh, cây thấp lùn có rêu bám dày, tầng mùn chưa phân hủy dày 25 –30 cm, tầm vóc cây biến động tùy độ dốc và mặt bằng, thành phần loài gỗ có Đỗ Quyên (Rhododendron), Lồng đèn (Lyonia ovalifolia), Châu thụ (Gaultheria), Mạy châu (Carya tonkinensis), Dẻ (Quercus), Chè béo (Anneslea), Côm (Elaeocarpus), Dẻ lá tre (Quercus bambusaefolia) và các loài bì sinh thuộc họ Phong lan Orchidaceae (Dendrobium, Eria, Coelogyne, Thecopus, Oberonia).
Vành đai rừng Sặt (Arundinaria) ở độ cao 2300 m và rộng khoảng 200 m, mật độ khoảng 20 000 cây/ha, mọc trên tầng mùn cũng chưa phân hóa tạo nên một cảnh quan đẹp của đỉnh núi khá hấp dẫn, có nhiều loài quí hiếm và đặc hữu, rừng gần như còn nguyên vẹn, các loài cây lá kim (hạt trần) cổ như: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Bách xanh (Calocedrus macrolepsis), Sa mu (Cunninghamia konishii), Cự tùng (Sewuoia). Pù Hoạt là một trong số các mẫu ít ỏi của trái đất còn tồn tại và tạo nên những cảnh ngoạn mục trên vùng đỉnh núi cao luôn luôn có mây che phủ.
Rừng kín lá rộng thường xanh mưa nùa nhiệt đới núi trung bình: Diện tích 26 371 ha, ở độ cao 800 – 1500 m theo sườn núi Pù Pha Nhà, Pù Cao Mạ, Pù Pha Lâng và phía Đông núi Pù Hoạt. Rừng phát triển trên đất feralit màu vàng, đá mẹ chủ yếu là riolit và granit. Thực vật chiếm ưu thế là cây lá rộng với các loài tiêu biểu của các họ sau: Họ Dẻ (Fagaceae) có khá nhiều loài và cũng chiếm ưu thế trong một số tổ thành đại diện của Họ Dẻ như: Cà ổi (Castanopsis ceratacantha, C. ferox, C. indica), Dẻ đá (Lithocarpus dussaudi), Sồi (L. trachycarpus), Dẻ cau (Quercus xanthoclada); cây lá kim có Thông lông gà (Dacrycarpus imbricatus), Kim giao (Nageia fleuryi).
Rừng chia làm 4 tầng, tầng vượt tán ở đây không phải là các cây lá kim như kiểu trên, mà là các loài Chò chỉ (Parashorea chinensis), Thung (Commersonia bartramia), Sến mật (Madhuca pasquieri), Táu muối (Vatica diospyroides), Táu mật (Madhuca pasquirei), Lát (Chukrasia tabularis), Nhọc (Polyalthia sp.), Gội (Aglaia gigantea), Thị (Diospyros), Đinh (Markhamia stipulata), Trâm (Syzygium sp.), Giổi (Manglietia fordiana), Re (Cinnamomum sp.), Dẻ (Castanopsis sp.), Sồi (L. trachycarpus),...Kiểu rừng này phần lớn là rừng ít bị tác động, tính nguyên sinh cao và có nhiều động vật quí hiếm sinh sống như: Voi (Elephas maximus), Bò tót (Bos gaurus), Nai (Cervus unicolor), Gấu (Ursus thibetanus, Ursus malayanus), Hoẵng (Muntiacus muntjak).
Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp: Phân bố ở độ cao dưới 800 m, trên đất feralit đỏ vàng phát triển trên granit, sa phiến thạch, tầng đất mỏng đã bị rửa trôi mạnh, nhiều đại diện ưa sáng của các họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), Sim (Myrtaceae), Xoan (Meliaceae), Dâu tằm (Moraceae), Cánh bướm (Papilionaceae), Vang (Caesalpiniaceae), Thị (Ebenaceae), Re (Lauraceae), Dẻ (Fagaceae), Côm (Elaeocarpaceae). Rừng chia 3 tầng, tầng ưu thế sinh thái tạo thành tán rừng với các loài điển hình: Chẹo (Engelhardtia), Bứa (Garcinia), Vạng trứng (Endospermum), Lim xẹt (Peltophorum), Mọ (Deutzianthus), Muồng (Adenanthera), Đa (Ficus), Mãi táp (Randia), Ngát (Gironniera), Côm (Elaeocarpus), Bời lời (Litsea), Chắp (Beilschmiedia).
Loại rừng này có hai kiểu phụ:
-  Kiểu phụ rừng kín thường xanh lá rộng mưa mùa trên núi đá vôi: Kiểu phụ này nằm trong vành đai rừng lá rộng thường xanh núi thấp dưới 800m, Lòng mang (Pterospermum), Ruối ô rô (Taxotrophis), Na hồng (Miliusa), Rền (Xylopia), Bưởi bung (Acronychia), Thâu lĩnh (Alphonsea), Bứa (Garcinia), Chẩn (Microdesmis), Thị rừng (Diospyros), Đại phong tử (Hydnocarpus), Gội núi (Aglaia perviridis), Sắn thuyền (Syzygium polyanthum). Tầng cây bụi với các loài Trọng đũa (Ardisia), Lấu (Psychotria sp.), Vệ mâu (Euonymus), Ba gạc (Rauvolfia verticillata), Lụi (Licuala fatua), Cau rừng (Pinanga duperreana). Kiểu phụ này ở vùng Pù Hoạt còn nguyên vẹn, chưa bị tác động, hiểm trở, là sinh cảnh tốt cho các loài thú thuộc nhóm Cầy (Viverridae), Sóc (Pteromyidae), Nhím (Hystricidae) sinh sống và trú ẩn.
-  Kiểu phụ rừng tre Nứa: Kiểu phụ rừng Tre Nứa phân bố rải rác ở độ cao dưới 600 m dọc theo các suối và gần bản làng. Rừng tre nứa xuất hiện sau nương rẫy bỏ lại lâu ngày với các loài Nứa (Neohouzeaua), Lùng (Lingnania), Giang (Dendrocalamus patellaris) Một số loài cây gỗ mọc hỗn giao phổ biến là Vạng trứng (Endospermum), Hu (Trema), đôi chỗ có các loài cây có giá trị tái sinh trong rừng tre nứa như Lát (Chukrasia tabularis), Gụ (Sindora tonkinensis), Trường mật (Amesiodendron chinense). Tái sinh cây gỗ khó khăn, chỉ có dưới 2000 cây/ha, trong đó cây gỗ tốt chỉ chiếm 20%.
3.2. Đa dạng loài và vốn gen
Số lượng loài thực vật bậc cao hiện thống kê được khoảng 600 loài trong khoảng 1500 loài, trong đó có 30 loài quí hiếm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam.
Thực vật hạt trần: Bước đầu khảo sát có 7 loài, trong đó có 4 loài quí hiếm là: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Kim giao (Nageia fleuryi) và Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii) là một loài quí hiếm phân bố cực hẹp, từ trước đến nay chưa thấy phân bố trong rừng tự nhiên ở Việt Nam. Cây có đường kính cực lớn, trung bình 1,5m, chiều cao khoảng 45m, trong đó có một cây Sa mu có D = 2,8m và H = 50m. Sa mu Pù Hoạt là cây to lớn nhất trong rừng tự nhiên, là biểu tượng không chỉ riêng cho Pù Hoạt mà cho cả toàn bộ thực vật Việt Nam.

Bảng 2 : Thống kê các loài thực vật đã khảo sát năm 1997

Nhóm phân loại

Số Họ

Số Chi

Số Loài

Ngành Quyết thực vật (Polydiophyta)

Ngành Hạt trần(Pinophyta)

Ngành Hạt kín (Magnoliophyta)

Chia ra:

+ Lớp 2 lá mầm

+ Lớp 1 lá mầm

15

4

105

 

87

18

24

6

397

 

330

67

59

7

697

 

585

112

Tổng số

124

427

763

Thực vật hạt kín: Có 26 loài được ghi vào sách đỏ, trong đó có những loài có giá trị đáng chú ý như: Sến mật (Madhuca pasquieri), Trai (Garcinia fagraeoides), Sao hải nam (Hopea hainanensis), Chò chỉ (Parashorea chinensis), Tô hạp (Altingia excelsa), Trám trẩu  (Mytilaria laosensis), Mạy châu (Carya tonkinensis).
Động vật: Đã thống kê được 193 loài động vật có xương sống, 8 loài bò sát quí hiếm: Rùa núi viền (Manouria impressa), Rùa hộp trấn vàng (Cistoclemmys galbinifrons), Rùa đầu to (Platysternum megacephanlum), Rùa đất (Geomyda spengli), Hổ mang (Naja jaja), Trăn đất (Python molurus), Trăn gấm (Python reticulatus) Khu hệ chim 131 loài, các loài quí hiếm như: Gà tiền mặt vàng (Polyplectron bicalcaratum), Gà lôi trắng (Lophura nycthemera), Công (Pavo muticus), Hồng hoàng (Buceros bicornis), Niệc hung (Aceros nipalensis), Cắt nhỏ bụng trắng (Microhierax melanoleucos).
Bước đầu đã phát hiện được 45 loài thú chiếm 25% tổng số thú của toàn quốc (chưa kể các nhóm Dơi, chuột ); 131 loài chim thuộc 10 bộ, 33 họ. Khu hệ thú móng guốc bao gồm một số loài lớn như: Bò tót (Bos gaurus), Sơn dương (Naemorhedus sumatraensis), Nai (Cervus unicolor), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis), Hoẵng (Muntiacus muntjak), khoảng 12 cá thể Bò tót (Bos gaurus), khu Thông Thụ giáp Thanh Hóa còn 5 đàn khoảng 26 con. Quá trình khảo sát đã thu được mẫu vật lạ của 1 loài Mang nhỏ trọng lượng khoảng 12-15kg. Mẫu vật đã được giám định ADN tại Copenhaga Đan Mạch tháng 9/1997 và được thừa nhận là loài mới, loài Mang Pù Hoạt.
Số lượng quần thể của Vọoc xám (Semnopithecus phayrei) còn đáng kể với mật độ dễ gặp, Vượn đen (Hylobates concolor leocogenis) phân bố chủ yếu ở núi phía Bắc núi Pù Hoạt – Pù Pha Lông, các loài Hổ (Panthera tigris), Báo Hoa mai (Panthera pardus), Báo lửa (Felis temmincki), Báo gấm (Pardofelis nebulosa), Sói (Cuon alpinus), 2 loài Gấu (Ursus thibetanus, Ursus malayanus) và các loài Cầy (Viverridae) tập trung ở núi Pù Pha Nhà giáp Lào. Sói đỏ (Cuon alpinus) xuất hiện nhiều, khoảng 3 đàn, mỗi đàn 7 – 10 con, trong số 27 loài quí hiếm.
4. Đa dạng văn hoá:
Những đặc trưng giá trị văn hóa được thể hiện trên một dải nối liền các khu bảo tồn thiên nhiên đã được thiết lập từ Pù Hoạt xuống Pù Huống đến Pù Mát. Đặc trưng văn hóa của một vùng thượng nguồn dòng sông Cả với các chi lưu lớn đều bắt nguồn từ các dãy núi thuộc 3 Khu bảo tồn thiên nhiên này. Đặc điểm địa hình cánh cung bán sơn địa thuộc các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Đô Lương, Thanh Chương, vành đai “bản lề” giữa miền núi và dải đồng bằng rộng lớn của tỉnh Nghệ An, kéo tới giáp Biển Đông đã tạo nên những giá trị văn hóa của các đồng bào dân tộc với đặc trưng của miền núi phía Tây một địa bàn đa dạng sinh học gắn liền với đa dạng văn hóa của các dân tộc anh em trên mảnh đất phía Tây Nghệ An này.

Bảng 3: Đa dạng văn hóa gắn liền với đa dạng sinh học trong khu DTSQ đề xuất

Đa dạng văn hóa và truyền thống

Khu BTTN

Pù Hoạt

Khu BTTN

Pù Huống

Vườn Quốc gia

Pù Mát

Các cộng đồng dân tộc thiểu số đặc trưng trong các khu BTTN

Thái, Khơ Mú, H’ Mông, Kinh

Thái, Khơ Mú, H’ Mông, Kinh, một số Ơ Đu 

Thái, Đan Lai (Ly Hà)

Khơ Mú, Ơ Đu, H’ Mông, Kinh

Đặc điểm đặc trưng các truyền thống văn hóa bản địa

Truyền thống văn hóa tộc người Thái (định cư lâu đời nhất)

Các tộc người khác Khơ Mú, H’ Mông và Kinh định cư muộn hơn, ảnh hưởng bản địa đan xen

Truyền thống văn hóa tộc người Thái (định cư lâu đời nhất)

Ơ Đu - tộc người bản địa, rải rác trên vùng đệm

Tộc người Khơ Mú, H’ Mông, Kinh đan xen

Truyền thống văn hóa tộc người Thái

Địa vực tộc người Ơ Đu bản địa trên lòng máng sông Nậm Nơn, vương quốc cổ đại bộ tộc Ơ Đu

Các tộc người khác định cư muộn hơn

Phương thức canh tác truyền thống

Lúa nước là chính, kết hợp canh tác đất dốc, vườn nhà tự cấp

Vườn trồng quế truyền thống

Lúa nước là chính, kết hợp canh tác đất dốc, vườn nhà tự cấp

Canh tác lúa nước là chính, kết hợp nương rẫy

Giao lưu đường thủy trên các sông Nậm Nơn (điển hình) và sông Nậm Mô thượng lưu sông Cả

Đánh bắt cá giỏi

Văn hóa truyền thống

Một trong số các trung tâm định cư tộc người Thái (dòng Man Thanh)

Văn hóa bản sắc tộc người Thái, phạm vi ảnh hưởng rộng lớn và mạnh

Văn hóa bản sắc tộc người Thái. Di sản văn hóa tộc người bản địa Ơ Đu gắn với địa vực cổ đại Ơ Đu vùng Nậm Nơn – sông Cả

Sinh kế và nghèo đói

Vùng sâu vùng xa đặc biệt khó khăn của miền núi tỉnh Nghệ An, còn nghèo và chậm phát triển

Phần lớn thuộc vùng sâu vùng xa miền núi tỉnh Nghệ An, còn nghèo và chậm phát triển

Vùng sâu vùng xa miền núi Tây Nghệ An, nhưng ven sông lớn và quốc lộ 7, có điều kiện phát triển thuận lợi hơn

Đặc trưng văn hóa – nhân văn toàn vùng được thể hiện nổi bật trong cộng đồng tộc người Thái, với những giá trị bản địa rất đặc sắc. Mặt khác, không thể bỏ qua giá trị cội nguồn tộc người Ơ Đu, từng một thời từ thế kỷ thứ 11 trở về trước đã là một bộ tộc với nền văn hóa rực rỡ ngã ba sông Nậm Nơn – Nậm Mô - sông Cả. Dân số tộc người Ơ Đu theo thống kê của tỉnh Nghệ An ở thời điểm ngày 30 tháng 12 năm 2003 có 528 người, được xác định là tộc người đang ở tình trạng nghèo khổ nhất, có dấu hiệu thoái hóa về thể chất và hoàn cảnh sống.
Vùng đệm khu BTTN Pù Huống có bốn dân tộc cùng sinh sống là người Kinh, Thái, Khơ mú và H’Mông, 8 535 hộ với 49 699 nhân khẩu. Bảo tồn cả về các giá trị thiên nhiên và giá trị văn hóa nhân văn của liên Khu bảo tồn Pù Hoạt – Pù Huống – Pù Mát  sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của tổng hợp bảo tồn vùng lưu vực đầu nguồn sông Cả miền núi phía Tây Nghệ An. Có thể nói đây là những giá trị hiếm có của một tổ hợp các di sản thiên nhiên, văn hóa đồ sộ và hoành tráng với những giá trị của hàng nghìn loài động thực vật, với nhiều loài động thực vật hoang dã, quí hiếm cùng với di sản văn hóa các cộng đồng tộc người vùng sông Hiếu, sông Nậm Nơn, truyền thống bản địa Ơ Đu – Thái.
Nghi lễ tôn giáo liên quan đến săn bắt thú: Hàng năm, những người thợ săn đi rừng từ ngày mùng 8 tháng Giêng đến ngày 23 tháng Chạp. Họ đi thành từng nhóm, mỗi nhóm từ 2 đến 8 người. Họ làm lán, ăn ở luôn trong rừng, chờ đến khi nào hết lương thực hoặc bắt được thú thì mới lần lượt thay nhau về làng. Do ở rừng dày ngày, để tránh những bất trắc đe dọa đến tính mạng, cộng với mong muốn bắt được nhiều thú , nên những ngày đầu năm mới, họ đến nhà thầy cúng, đền, chùa trong vùng xin bùa “hộ mệnh” để đeo trong người, treo ở trước cửa nhà và lán trại trong rừng. Họ cũng chọn ngày giờ tốt để đi vào rừng. Ngày tốt thường là ngày chẵn: 2, 6, 8, 10, 12, 16…; không đi vào ngày xấu: 5, 14, 23 và trước khi đi, họ thắp hương ở bàn thờ gia tiên.
Vào tới nơi, họ lại làm lễ cúng thần Giang Sơn, cúng hai lần (đầu năm và cuối năm) trong một năm. Lễ đầu năm cúng vào ngày 7 tháng Giêng gọi là lễ mở cửa rừng và lễ cuối năm vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch - lễ đóng cửa rừng. Nghi lễ cúng thần Giang Sơn làm dưới gốc cây cổ thụ nơi đánh bẫy, hoặc trong lán ở với lễ vật gồm có: trầu, cau, rượu, xôi, gà, nước chè xanh, vàng mã, hương, nến. Ngoài ra, hàng tháng những người thợ săn đều thắp hương vào ngày 30 và mùng 1; 14 và 15 tại lán, bên khe suối, dưới gốc cây cổ thụ nơi gài bẫy. Với người theo đạo công giáo, họ thường đọc kinh vào sáng sớm, chiều tối, lúc ăn cơm hoặc đi gài bẫy, thăm thú cầu chúa Jêsu ban phước lành.
Hàng ngày, những người thợ săn còn có nhiều điều kiêng kỵ như: kiêng gặp đàn bà, người có vía dữ, người đội khăn tang; kiêng không gọi tên nhau trong rừng, khi cần chỉ việc hú thay cho gọi (để tránh ma rừng bắt), không ăn cơm khê, không chặt các cành cây cổ thụ và lấy củi đun ở cây cụt ngọn, không chặt cây sét đánh mang về làm lán, bếp không để tắt.
Tín ngưỡng cả người thợ săn cũng thay đổi theo nhận thức của từng người, từng lứa tuổi và thời gian khác nhau. Xưa ngọn núi Bà Mụ được coi là khu “rừng thiêng” không ai dám vào khai thác, nay đã có người vào lấy trầm, chặt gỗ, đánh bẫy . Hơn thế nữa, những con “vật thiêng” được mệnh danh là Chúa sơn lâm, được tôn làm thần, thánh như hổ, chó sói, gà trắng không một ai bắt ăn thịt và khi đi rừng phải gặp chúng, người ta phải chắp tay lậy, với những lời cầu xin thành kính: “Con lạy các Ngài sơn lâm, bà chúa rừng, thần sông suối, thần cây phù hộ cho con được tai qua nạn khỏi; con vào rừng kiếm ăn cầu xin các Ngài phù hộ”. Nếu thấy con “vật thiêng” chết, họ phải mang chôn dưới gốc cây cổ thụ ở ngay cạnh khe suối. Từ năm 1995 đến nay, lệ tục này không còn là do giá thu mua các con “vật thiêng” thường cao hơn các con thú khác, nên người ta tìm mọi cách để bắt, nếu chết thì lấy xương về nấu cao cũng mang lại nguồn thu nhập đáng kể. Ngoài ra, lớp thanh niên ngày nay tiếp cận nhiều với ti vi, đài báo nên nhận thức cũng được thay đổi. Anh Đỗ Văn Hanh cho biết: “Tôi không tin trong rừng có ma, có thần thánh. Những luật tục của người già quy định trước đây giờ không thích hợp với thời cuộc hôm nay với lớp trẻ chúng tôi”

 







Bản quyền Vườn quốc gia Pù Mát
Địa chỉ: Xã Chi Khê, Huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An
Điện thoại/Fax: 038.3873374   Email: vqgpm@hn.vnn.vn
Website sử dụng giải pháp YoMedia Portal