Đăng Nhập

 Ý nghĩa về mặt văn hóa

Đặc trưng văn hóa – nhân văn toàn vùng có thể nổi bật thuộc về cộng đồng tộc người Thái, nhưng giá trị bản địa rất đặc sắc không thể bỏ qua giá trị cội nguồn tộc người Ơ Đu, từng một thời từ thế kỷ thứ 11 trở về trước đã là một bộ tộc với nền văn hóa rực rỡ ngã ba sông Nậm Nơn – Nậm Mô - sông Cả. Dân số tộc người Ơ Đu theo thống kê của tỉnh Nghệ An ở thời điểm 30 tháng 12 năm 2003 có 528 người, được xác định là tộc người đang ở tình trạng nghèo khổ nhất, có dấu hiệu thoái hóa về thể chất và hoàn cảnh sống.

 

Văn hóa dân tộc các bản làng trong khu DTSQ đề xuất như Mường Piệt, Mường Đán, Bản Lốc là nơi  cư trú của người Thái (dòng Mãn Thanh) mang lại những giá trị văn hóa hết sức phong phú về cách thể hiện tình cảm, cách ăn mặc, trang phục trong các lễ hội và ngày thường. Có thể nói chỉ có ở đây người Thái vẫn giữ được nhiều phong tục tập quán và bản sắc dân tộc trong sinh hoạt, giao tiếp và sản xuất. Nhà cửa là sàn gỗ, to lớn, có thể hấp dẫn du lịch như Mai Châu – Hòa Bình, có hơn 100 nhà đã lợp mái bằng Pơ mu hoặc Sa mu. Dọc tuyến đường lên Pù Hoạt có hàng chục guồng xe nước lớn rất ngoạn mục. Đồng bào vẫn còn trồng bông và dệt thổ cẩm. Khi tiếp khách vẫn thường xuyên dùng rượu cần. Các nhà sàn rộng thoáng mát có thể làm nơi nghỉ ngơi cho du khách.

 

Đồng bào dân tộc Đan Lai thuộc 3 bản thượng nguồn Khe Khặng (Sông Giăng) giáp biên giới Việt – Lào ở vào Vườn Quốc gia Pù Mát cách trung tâm xã Môn Sơn 40 km, trung tâm huyện Con Cuông 60 km. Đời sống kinh tế - xã hội còn quá nghèo nàn và lạc hậu. Trình độ dân trí thấp, cuộc sống chủ yếu dựa vào đốt rừng làm nương rẫy và săn bắt động vật hoang dã. Cơ sở phục vụ sản xuất và đời sống chưa có gì, ốm đau, bệnh tật thiếu cơ sở y tế, thiếu thầy, thiếu thuốc điều trị, tỷ lệ tử vong cao. Để nâng cao đời sống kinh tế - xã hội, đảm bảo tồn tại và phát triển tộc người Đan Lai, bảo vệ tài nguyên rừng và động vật quý hiếm Vườn Quốc gia Pù Mát, trật tự an toàn xã hội, an ninh biên giới được ổn định, việc tái định cư đồng bào dân tộc Đan Lai ở 3 bản Cò Phạt, Khe Cồn và bản Búng ra định cư tại nơi mới là hết sức cần thiết.

 

Dân tộc Thái sống trong các cánh đồng thung lũng lòng chảo của vùng núi cao miền nhiệt đới gió mùa ẩm ướt phía tây và tây bắc Bắc Bộ. Trải qua hàng ngàn năm khai thác thiên nhiên ở điạ hình này, họ đã tạo được hệ sinh thái nhân văn thường gọi là “văn hoá thung lũng”. Các thung lũng ấy thường có cảnh quan địa lý như sau: có sông suối chảy qua tạo thành vùng đồng bằng rất thuận lợi cho việc làm ruộng, cấy lúa. Cánh đồng tiếp giáp với chân núi, sườn núi thuận lợi cho việc khai thác nương vườn. Bởi vậy đồng bào có truyền thống chính là làm ruộng và làm nương. Bên cạnh đó, từng gia đình còn có những hoạt động kinh tế khác như chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm các nghề phụ: mộc, rèn, đan lát, đặc biệt là nghề dệt vải. Ngoài ra còn có các hoạt động kinh tế chiếm đoạt như: hái lượm, đánh cá, săn bắt.

 

Bảng 11 : Các yếu tố địa văn hóa của khu vực lưu vực sông Cả thuộc khu DTSQ đề xuất

 

Dọc sông Hiếu vào sông Cả

Đặc sắc văn hóa tộc người Thái Vùng quế Kim Sơn, Quế Phong, Văn hóa sắc thái tộc người Khơ Mú, H’ Mông, Kinh

Dọc sông Nậm Nơn tới ngã ba Nậm Mô vào đầu sông Cả

Đặc sắc địa vực tộc người Ơ Đu và Dấu tích nền văn hóa Ơ Đu cổ đại, giao lưu trên sông, đánh bắt thủy sản và Thủy điện Bản Vẽ

Dọc sông Cả từ Cửa Rào xuôi dòng qua địa phận Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn

Đặc sắc văn hóa vùng miền xen ghép các tộc người Thái – Kinh – Khơ Mú, đan xen các loại hình canh tác Thị trấn, thị tứ, làng xã

Khu vực Khe Thơi, Khe Choang, Ngược dòng Nậm Nơn

Và các đỉnh cao trên các dãy Pù Hoạt, Pù Huống, Pù Mát

Các địa vực cư trú cổ đại của các tộc người Khơ Mú, Ơ Đu, Đan Lai, hệ thống kiến thức bản địa của các tộc người còn sót lại.

 

Khí hậu có hai mùa rõ rệt: mùa mưa (mùa nóng) bắt đầu từ tháng 5, 6 đến tháng 10, 11 dương lịch, tương đương với lịch Thái là từ tháng 10 đến tháng 3. Mùa rét (hanh khô) bắt đầu từ tháng 10, 11 đến tháng 4, 5 dương lịch, tương đương với lịch Thái là tháng 4, 5 đến tháng 9, 10. Dựa vào đó, đồng bào đã hướng việc sản xuất sao cho phù hợp với các điều kiện tự nhiên để đảm bảo cuộc sống.

 

Kinh tế trồng trọt ở đây là yếu tố quyết định sự tồn tại của xã hội cổ truyền Thái. Đồng bào trồng nhiều giống cây nhưng chủ yếu là lúa. Nông nghiệp truyền thống của đồng bào mang tính độc canh rõ rệt. Mọi hoạt động sản xuất đều xoay quanh việc làm ra thóc gạo. Nếu như người Kinh có câu: “Quý hồ nhiều lúa là tiên” thì người Thái có câu: “Thóc lúa ngồi trên, bạc tiền ngồi dưới” (Khảu nặm năng nưa, ngân căm năng tảư). Đối tượng lao động chủ yếu của đồng bào là ruộng và nương. Người Thái gọi tầng lớp nông dân mình là “ Ông nương – bà ruộng” (Po hay – me na).

 

Ruộng: Phương pháp canh tác trên ruộng nước của đồng bào Thái cũng nằm trong loại hình nông nghiệp dùng cày, có sử dụng sức kéo của gia súc. HIện nay niên đại phát sinh nông nghiệp dùng cày ở cư dân Thái chưa xác định được. Tài liệu khảo cổ chỉ có thể cho biết lưỡi cày xuất hiện đầu tiên ở thời đại đồng thau. Song trước đó, nhiều nơi đã sử dụng những cày bằng gỗ, mà thời gian do tác động của nhiều đã làm tiêu tan dấu vết.

 

Người Thái gọi ruộng nước là na. Đó là khoảng đất có mặt bằng, xung quanh có bờ ngăn nước để trồng lúa. Khâu trồng lúa đã được nhấn mạnh để phân biệt giữa ruộng với ao, hồ. Tục ngữ Thái nói: “Làm ao để thả cá, làm ruộng để trồng lúa” (Dệt nong vạy pói pa, dệt na vạy xáư kháu). Như vậy, muốn có ruộng, con người nhất thiết phái đem sức lao động của mình tác động vào khâu kỹ thuật: tạo mặt bằng, đắp bờ ngăn, dẫn nước và làm nhiều công đoạn khác để tạo điều kiện cho cây lúa sinh sôi nảy nở. Từ đất ruộng, lúa nước có một năng suất lương thực cung cấp cho con người để tái sản xuất. Ruộng lúa của người Thái có thể phân thành các loại sau:

-  Về địa hình thì có ruộng bậc thang (na hon), ruộng bằng (na piêng) , vùng ruộng rộng tạo ra cánh đồng (tông na).

-  Về chất lượng thì ruộng bằng (na piêng) bao giờ cũng tốt hơn ruộng bậc thang. Ruộng sẵn nước (na nặm che) bao giờ cũng tốt hơn ruộng chờ mưa. Ruộng gần bản (na há) bao giờ cũng tốt hơn ruộng xa bản (na khók him khim bản).

-  Theo nguồn nước thì có ruộng sẵn nước nhờ có biện pháp thuỷ lợi (na tông) và ruộng chờ mưa (na nặm phôn).

 

Sau khi phân được các loại ruộng tức là đã đi đến định nghĩa đầy đủ về ruộng nước ở vùng người Thái. Ai cũng biết là yếu tố nước đã quyết định sự tồn tại của ruộng nước. Biện pháp để có nước ruộng bao giờ cũng được người nông dân Thái đặt lên hàng đầu và được đúc kết trong 4 chữ : Mương, phai, lái, lin:

 

Mương là đường khai thông để dẫn nước vào ruộng. Nói về việc đào mương, người ta dễ thấy rằng người Thái, với trình độ thủ công trước đây, đã đạt được những thành tựu đáng kể. Có những con mương dài ngót chục cây số vắt qua triền núi đá hoặc uốn lượn theo đường khúc khuỷu của chân đèo đầy chướng ngại. Trong tay họ khi ấy chỉ có con dao với lưỡi mai bằng sắt tra cán gỗ, thêm vào đó là sự hiểu biết theo kinh nghiệm về nguyên tắc đòn bẩy, về lực tác động,…, thế mà họ đã thi công được không ít công trình về mương cho đồng ruộng.

 

Phai là một loài đập ngăn trên sông hoặc do người Thái dựng bằng gỗ, tre, nứa và đất để dâng nước đổ vào mương, dẫn tới ruộng. Phai quyết định lưu lượng nước trong mương. Phai vững thì mương có nước tưới cho ruộng và mùa màng đảm bảo thu hoạch tốt. Ngược lại, phai vỡ, mương, ruộng khô, mùa màng thất bát. Bởi vậy đồng bào thường ví rằng: “Phai vỡ như cha chết” (Po tai phai păng). Từ dự nhận thức đầy đủ về mối tương quan ấy mà đồng bào đã tạo ra cách đắp phai tương đối vững vàng, đủ sức ngăn được dòng suối đương chảy xiết và dâng mực nước lên tới mức cần thiết để đổ vào mương.

 

Lái bao gồm những phai của hệ thống con nước. Hệ thống con nước tiếng Thái gọi là lốc và cọn. Lái còn bao gồm những phai phụ của phai chính dùng để ngăn nước ở đoạn mương hay bị vỡ; dẫn nước mương chảy qua những chướng ngại vật lớn như tảng đá, cây cối… Lái cũng là những đoạn phai ngăn đắp ở phần suối mé trên bờ lở để tránh xói mòn vùng bờ ruộng hoặc xói vào các điểm tựa của “mẹ nặm cát” (me non xai) của phai …

 

Lin là hệ thống máng dẫn nước vào ruộng. Hệ thống này người Thái thường làm bằng các loại cây có dóng như tre, bương, vầu; thân gỗ đục hoặc vỏ cứng của cây báng, cây móc. Máng cũng có nhiều loại, và mỗi loại có tên gọi khác nhau. Mỗi loại máng có một tác dụng riêng. Chẳng hạn như máng ngầm và ngắn gọn là to hay lay dùng để đưa nước vào các thửa ruộng sát mương, rút hết nước ở ruộng cao xuống thấp hoặc tháo toàn bộ nước của một thửa ruộng ra cho cạn… Những máng dài hàng mét dẫn nước từ trên cao xuống thấp để tưới ruộng cũng gọi là lin. Những máng bắc qua sông suối phải đặt trên cầu treo thì gọi là cuộm. Ống dẫn nước qua chướng ngại vật cao hơn nguồn nước được áp dụng theo nguyên tắc lợi dụng sức đẩy của áp suất nước ở trên cao là lin cun…

 

Những biện pháp thuỷ lợi thủ công thô sơ này đã xuất hiện cùng với việc ổn định nơi cư trú, lập bản dựng mường của người Thái. Ngoài biện pháp thuỷ lợi, người nông dân Thái còn có những biện pháp kỹ thuật khác như: bón phân, cày, bừa, chăm sóc, chọn giống… Trước đây vì đất rộng người thưa, người Thái chỉ làm mỗi năm một vụ. Sau 1954, nông dân Thái đã biết canh tác ruộng hai vụ.

 

Nương: Trong cuộc sống xưa của người Thái, nương có nhiều tác dụng. Nương lúa cùng với ruộng nước đáp ứng nhu cầu về thóc gạo. Nương ngô giúp thêm cái ăn cho con người và gia súc, nương còn cung cấp thêm những thức ăn có bột khác như khoai sọ, khoai lang,..., những cây có dầu như vừng, lạc và đặc biệt là cây bông để làm nguyên liệu dệt. Người Thái làm nương theo phương pháp chặt phá cây, đốt, chọc lỗ - tra hạt. Nương chỉ làm được ba vụ rồi phải bỏ theo chu kì khép kín. Cách sản xuất dựa vào nương rẫy nay đã lỗi thời, cần bỏ vì chặt phá rừng gây tổn thất nghiêm trọng cho môi trường sống. Thay vào đó là việc trồng rừng và phục hồi rừng theo cách cho rừng được tái sinh tự nhiên.

 

Nói về nương rẫy ở cư dân Thái, trong một bài nghiên cứu nhỏ, PGS. Lê Sỹ Giáo đã viết:

“Nương rẫy có vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp truyền thống của người Thái. Quả vậy, sinh sống lâu đời ở vùng thung lũng, các cư dân Thái – Tày không chỉ có ruộng mà còn có rừng, không chỉ sống nhờ vào ruộng mà còn triệt để khai thác thế mạnh của rừng. Phương thức phát cây đốt rừng làm nương rẫy được con người biết đến đã từ rất lâu đời...

 

 “Nương rẫy trong đời sống kinh tế truyền thống của các cư dân thung lũng trước hết là nguồn bổ sung một phần lương thực cho con người và cung cấp thức ăn cho gia súc. (Thóc nếp cho người, thóc tẻ và ngô, sắn cho chăn nuôi). Các cây cho thức ăn có dầu như vừng, cho thức ăn có đạm như các loại đậu, các loại rau xanh, các cây gia vị (kiệu, hành, gừng,... )đều được trồng trên đất rẫy. Thành thử nương rẫy trong trường hợp này không chỉ đơn thuần là mảnh đất trồng trọt một vài loại cây lương thực và hoa màu, mà nó đã mang dáng dấp của mảnh vườn trong tương lai.

 

“Cũng cần lưu ý là ngoài nương rẫy có vai trò quan trọng như đã thấy thì rừng, sông suối cũng cung cấp một nguồn thức ăn rất đáng kể: đó là các loại rau, măng, mộc nhĩ; các loại tôm, cá. Rừng còn là nơi khai thác lâm – thổ sản phục vụ cho cuộc sống của con người, quan trọng như làm nhà cửa, bình thường như củi đun hàng ngày. Rừng còn là “ bãi chăn thả” gia súc mà chủ yếu là trâu bò.

 

“Ngày nay, hiện tượng chặt đốt rừng làm nương rẫy đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống – là vấn đề thời sự nóng bỏng ở các vùng núi nói chung. Nhưng dù sao chúng tôi vẫn cho rằng giải quyết vấn đề nương rẫy ở các tộc người làm cho ruộng vùng thung lũng không phải là quá nan giải và bế tắc. Cái gốc là ở chỗ các cư dân này vốn là những người canh tác ruộng nước truyền thống chứ không phải là những người chuyên sống bằng “ăn nương”. Do sức ép của dân số, nhu cầu lương thực ngày càng tăng lên, trong khi đó diện tích ruộng nước gần như đã cạn nguồn khai phá từ lâu. Người dân chỉ còn biết trông cậy vào đất rừng, biến rừng thành nương rẫy để trồng lúa, trồng màu. Vì vậy chỉ có thể giải quyết vấn đề “bảo vệ rừng” trên cơ sở giải quyết tốt vấn đề lương thực cho nhân dân. Mặt khác cũng cần xác định rõ ràng quyền sở hữu và kế thừa các vạt rừng trồng theo chủ trương giao đất – giao rừng. Kinh nghiệm cho thấy không một lực lượng xã hội nào lại chăm sóc, bảo vệ rừng tốt hơn chính những người dân sở tại luôn sống và quen thuộc với rừng.”

 

Chăn nuôi: Trước đây mỗi gia đình người Thái đều nuôi gia súc, gia cầm. Trâu để kéo cày; ngựa để thồ và đi lại; chó giữ nhà, mèo bắt chuột; trâu, bò, gà, vịt, dê,v..v.. để ăn thịt, cúng tế, tiếp khách. Vật nuôi còn dùng để phục vụ các bữa ăn khi mời bà con trong bản tới giúp những công việc lớn cần phải hoàn thành trong một thời gian ngắn như dựng nhà, trồng cấy, phát nương, gặt hái v.v..và khi cần thiết cũng đem ra trao đổi, biến sản phẩm tự cung tự cấp thành hàng hóa.

Phương thức chăn nuôi của hầu hết các gia đình thường thể hiện tính chất nửa chăm sóc, nửa thả rông. Đàn gia súc được nuôi theo tập quán thả rông đã hình thành những giống thích nghi với lối sống hoang dã của người. Chăn nuôi theo phương pháp này, người Thái cũng sản sinh ra được một vài giống gia súc tương đối tốt. Giống trâu ở Mường Thanh (Điện Biên) tương đối to, khỏe, cho nhiều thịt. Giống ngựa tuy nhỏ nhưng thồ được nặng, sức bền, ít ốm yếu dọc đường và đặc biệt là leo núi cao, đường đi gập ghềnh khá giỏi. Bởi vậy trâu, bò, ngựa v.v.. nhất là trâu của người Thái đã bước đầu trở thành hàng hóa.

 

Ngày nay, trong cơ chế thị trường, cách thức chăn nuôi theo truyền thống đã không còn thích hợp. Nông dân Thái đã biết chăn nuôi theo phương pháp mới do các cơ quan nông nghiệp của huyện, của tỉnh hướng dẫn.

 

Hái lượm:  Ở cư dân Thái, hoạt động này vẫn còn đóng vai trò quan trọng. Tất nhiên hái lượm cũng không thể gọi là một là ngành kinh tế chủ đạo như thời nguyên thủy, nhưng ít nhất những tàn dư của nó được bảo lưu cũng đã đáp ứng khá nhiều cái ăn cho đồng bào, trong điều kiện thiên nhiên vẫn cho phép họ làm việc đó. Chắc rằng, người ta sẽ chưa nghĩ gì đến việc trồng rau nếu như ở rừng, ngay bên cạnh nhà đã có loại rau tự nhiên đó và lại rất phong phú, đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế của con người. Hiện tượng hái lượm ở người Thái tồn tại khá đậm nét:

 Lụ hặc lả me ếm ơi!Mưng cọ nhaư lom phắc lai xa.(Con yêu lớn bởi nhiều rổ rau xanh)

Mả lom nó lai luông. (Bởi nhiều búp măng ở rừng)

 

Sinh hoạt hái lượm đã trở thành tập quán cổ truyền của phụ nữ và trẻ em. Điều đó không chỉ có trong thực tế mà còn được phản ánh trong múa và hát dân ca:

            Nhinh cọ tộc té nọi kin khảu bái nó.

            (Em là phận gái nghèo từ thuở nhỏ. Ăn cơm với măng)

            Khó té nọi kin khảu báiblon.

            (Khó từ tuổi thơ ăn cơm với “bon”) .

            Nhing kin nó cọ báu chư đảy xuốn hon.

            (Ăn măng một ngọn không riêng một mình).

Nhing kin bon báu chư đảy xuốn kản.

(Ăn bon một cuống không phải mình em ăn)

 

Công việc hái lượm của phụ nữ và trẻ em Thái còn bao gồm cả việc bắt tôm, cua, ếch, nhái, các loại sâu bọ, động vật nhuyễn thể và những loài tép, cá con... Đây là nguồn thức ăn kiếm được thường xuyên, có sẵn trong tự nhiên, có nhiều dinh dưỡng và ngon miệng.

 

Ngày nay do rừng bị tàn phá nghiêm trọng, toàn bộ khu vực Tây Bắc chỉ còn 9% đất rừng. Sông suối cạn, các loại thủy sản cũng không còn chỗ để sinh tồn bởi vậy đối tượng hái lượm của các gia đình hầu như không còn. Người ta phải chuyển sang kinh tế VAC.

 

Đánh cá: Cơ cấu bữa ăn của các gia đình Thái là cơm-cá. Bởi vậy cùng với hái lượm, việc đánh cá ở sông suối cũng được các cư dân Thái tổ chức thường xuyên. Tục ngữ nói về sự sung túc của kinh tế truyền thống Thái như sau: “Không đói cơm, thiếu gạo, không thiếu cá” (khảu báu ứt, pa báu dak). Như vậy ở phương diện nào đó, cá được coi ngang với thóc lúa. Việc đánh cá của đồng bào được tổ chức dưới hai hình thức: cá nhân và tập thể. Mùa nước suối trong, người ta còn “mở hội đánh cá” (phá pa văng hảm) ở vùng cấm hay ao của mường. Hội này rất vui, thu hút được hàng ngàn người xuống một nơi đã được cấm không đánh bắt cá, làm ồn ào, gây tiếng động lớn để cá đến tụ đàn. Ba năm một lần, hội được mở ở các trung tâm đất mường.

 

Hiện nay do thiên nhiên đã bị cạn kiệt, sông suối cạn nước lại bị đánh mìn, đánh điện, cá và các loài thủy sản không còn là bao. Các hình thức đánh cá trong tự nhiên cũng bị mất đi để chuyển sang việc đào ao thả cá.

 

Săn bắn: Khái niệm săn bao gồm cả việc bắt các loài muông thú và các loài thú nhỏ, to trong tự nhên. Cũng như hái lượm và đánh cá, săn cũng vẫn đóng vai trò hỗ trợ trong việc thỏa mãn thức ăn về thịt trong đời sống hàng ngày của người Thái. Tuy nhiên do tính chất thất thường của săn bắn và nguồn thịt của chăn nuôi gia đình, hoạt động săn đã bị hạ thấp xuống vị trí rất phụ so với hái lượm và đánh bắt.

 

Việc đi săn của người Thái cũng được tổ chức dưới hai hình thức: săn cá nhân và săn tập thể. Săn các nhân gọi là “Đi thăm rừng” (pai dam pá) và săn tập thể gọi là “săn” (húa hay hóm). Săn cá nhân có hai cách: đối mặt với muông thú để diệt và đặt bẫy săn bắn. Săn tập thể còn gọi là săn gióng, dùng số đông cùng với đàn chó săn để đuổi thú trong rừng ra chỗ có người mai phục sẵn để diệ bằng súng hay bằng lưới săn. Trước đây mỗi bản đều có nhiều vùng rừng dành để săn bắn tập thể gọi là “gò săn” (đon húa). Ngày nay hoạt động này hầu như đã chấm dứt vì đã bị cấm.

 

Bản: Bản là danh từ trong nhóm ngôn ngữ Thái, hệ Nam – Thái tức Thái – Ka đai. Nó dùng để chỉ một đơn vị cộng đồng cư dân – trong đó mỗi gia đình phụ hệ, bất kể là nhỏ hay lớn, ở mọi nơi (hay mẫu hệ như ở miền Bắc Thái Lan)- đều có một ngôi nhà riêng. Chủ nhân của đơn vị bản là những nông dân. Đây là lớp người đã có hàng ngàn năm lịch sử để tạo lập hệ sinh thái nhân văn và làm nên văn hóa thung lũng. Bản có những đặc trưng chủ yếu sau:

 

Đây là đơn vị sở hữu lãnh thổ. Lãnh thổ ấy là “đất bản” (đin bản). Bản nhỏ nhất có hai nóc nhà và hoàn chỉnh phải có từ 10 nóc nhà trở lên với một vùng lãnh thổ được sở hữu gồm các khu vực tự nhiên như: ruộng đồng, đất bãi, đất rừng, núi, sông suối, đầm hồ...Đây là đơn vị cộng cư nên từ lâu đã là một cấp mà tổ chức xã hội trực tiếp quản lý toàn bộ vùng “ đất bản”. Trước đây nó là đơn vị hành chính dưới cấp mường. Bây giờ, tuy không phải là đơn vị hành chính của nhà nước nhưng vẫn được cấp xã chỉ đạo phản ánh tình hình của dân với Đảng và Nhà nước. Như vậy bản là tổ chức xã hội đặc thù mang đậm tính tự nhiên và bền vững của tộc người.

 

Đây là đơn vị dân cư đảm nhiệm chức năng văn hóa. Xưa, tất cả những người đứng đầu bản đều biết chữ Thái cổ. Chính họ là người khuyến khích toàn dân trong bản học và dùng chữ Thái trong sinh hoạt hàng ngày.

 

Từ yêu cầu trong cuộc sống về văn hóa tâm linh, cần khẳng định vị trí cư trú lâu đời và ổn định của mỗi nóc nhà trên bản nên có tục chọn hồn người đứng đầu bản là “ linh hồn chủ” (chẩu xửa). Vào dịp “ cúng bản” (xên bản), người ta đem áo của chủ bản ra đặt cạnh mâm cúng. Xưa, đây là một trong những tập tục trở thành yếu tố quan trọng trong việc cố kết cộng đồng bản. Nó khẳng định điều như câu tục ngữ : “ Một thân không thể ngồi trên nong tự nhấc; một mình không thể ngồi trên gốc tự nhổ” (phủ điêu báu năng đổng hăk nho; báu năng to hák cốn). Với ý niệm đó, bản không chỉ là nơi tập hợp các gia đình riêng rẽ - thân người nào, người ấy lo; nhà người nào, người ấy liệu ... – mà là một cộng đồng có tổ chức. Có nhiều việc không kể nhỏ hay lớn chỉ là của riêng một cá nhân, gia đình, dòng họ, nếu bản biết thì lập tức theo lệ chia sẻ vui buồn hoặc cưu mang khi cần thiết. Chẳng hạn, một gia đình làm lễ cúng tổ tiên cũng sẵn sàng trở thành lễ hội của cả bản; một người trong bản chết cả bản khóc và cùng tham gia làm tang lễ.

 

Từ sau năm 1945, vai trò tổ chức do giữ được nếp sống cộng đồng nên vẫn tiếp tục phát huy mặt tích cực. Ngoài tính hạn chế như khi đưa dân vào hợp tác xã nông nghiệp thì mọi người đã cùng nhau phá rừng làm nương rẫy, bản vẫn như mộ “ pháo đài” vững chắc, góp phần vào sự thành công của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngày nay, tuy không có văn bản của Nhà nước, nhưng bản vẫn không thể theo tập quán truyền thống và là một tổ chức cơ sở của mường Việt Nam. Nó là nơi hàng ngày, hàng giờ tác động tới sản xuất và đời sống của từng gia đình hạt nhân. Cũng cần nhấn mạnh rằng, bản Thái không phải là tổ hợp những khuôn viên của các gia đình tư hữu mà vẫn quen nếp cũ sống theo cộng đồng một cách tự nhiên.

 

Mỗi người dân trong bản vẫn coi đơn vị cộng đồng này như là nơi nương tựa vững chắc về vật chất cũng như tinh thần. Bởi vậy, bản cần thiết phải được củng cố để phát huy đầy đủ chức năng “ pháo đài văn hóa” của tộc người. Chẳng hạn, đây là nơi tổ chức học lại chữ Thái, sinh hoạt hội hè, vui chơi lành mạnh và quan trọng hàng đầu hiện nay là phục hồi các khu rừng cần thiết của bản. Nếu bản không phải là đơn vị tổ chức trồng và bảo vệ rừng thì chắc chắn tài nguyên này sẽ mất hẳn. Bản còn là nơi định hướng sản xuất cho các gia đình hạt nhân. Chẳng hạn như nơi có quá ít ruộng, buộc lòng họ phải trở lại với việc phá rừng làm nương. Bản cần lập kế hoạch để các gia đình chuyển hướng sản xuất sang trồng rừng, cây ăn quả, cây công nghiệp, cây phục vụ sức tiêu thụ của thị trường...Vùng người Thái, bản không nên chỉ hướng cho các gia đình hạt nhân của mình trồng cây mà cần phải phát triển chăn nuôi gia đình theo hướng làm giàu. Hướng đi đáng chú ý này đã có nhiều bản đang thực hiện và bước đầu tỏ ra có hiệu quả kinh tế.

 

Nhưng dù thế nào, tổ chức bản cũng cần cố gắng đi theo truyền thống của mình. Theo đó thì chỉ nên dừng ở chỗ tìm ra hướng đúng để cho các hộ thành viên biết mà tự vận động, không nên lấy chính tổ chức bản làm đơn vị  sản xuất thay cho từng gia đình như trước đây hợp tác xã đã thực hiện. Định hướng kế hoạch, cần phải nhường phần thực thi cụ thể cho các gia đình. Và như thế bản vẫn là tổ chức đảm nhiệm chức năng văn hóa như xưa nay.

 

Mường: Nếu bản còn có thể cho ta quan sát được cái cốt lõi của nó thì mường đã không còn dáng dấp nào chứng tỏ nó đã từng là một thang trong cơ cấu xã hội, ngoài cái tên còn đọng lại do đã trở thành địa danh như Mường Muổi (Thuận Châu), Mường Thanh (Điện Biên), Mường Lay (Lai châu), Mường Vạt (Yên Châu), Mường Xang (Mộc Châu)... Như vậy, trước sự thống nhất cách tổ chức một thể chế ở nước ta, cơ cấu mường vùng Thái đã lùi vào quá khứ để thay vào đó là các cấp xã, huyện, tỉnh như hiện nay. Trình bày tổ chức mường của người Thái ở đây không phải là để biết hiện tình của xã hội Thái ở đơn vị này mà để hình dung một mô thức văn hóa – xã hội đã từng tồn tại ở dân tộc này ít nhất cũng đã có ngót ngàn năm, từ thế kỉ thứ IX, X đến thế kỷ XX vừa qua.

 

Điều đáng chú ý nhất, có lẽ tổ chức mường Thái không chỉ có ở vùng Tây Bắc Việt Nam mà là hiện tượng phổ cập chung cho tất cả các cộng đồng tộc người trong nhóm ngôn ngữ Thái ở miền nam Trung Hoa và Đông Nam Á lục địa. Căn cứ vào tư liệu đã hệ thống được, có thể phân chia quá trình phát triển xã hội các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái hàng ngàn năm đã diễn ra qua bốn mốc lớn:

-  Đẳm . Đây là hình thái tổ chức xã hội dựa trên quan hệ huyết thống, ra đời trong xã hội thị tộc – bộ lạc, thời sơ sử.

-  Bản – mường. Đây là hình thái tổ chức xã hội dựa trên quan hệ lãnh thổ và sở hữu. Cơ cấu theo hệ thống phân chia lãnh địa mường, trong đó “mường ngoài” (mương nọk) quy tụ vào “ mường trong” (mương cuông) với trung tâm là đất chiềng; các mường chịu quy phục thep lệ cống nạp (mương vảy) phụ thuộc vào “mường lớn” (mương luông).

-  Pathết. Danh từ này không có gốc từ ngôn ngữ nhóm Thái mà do vay mượn từ tiếng Pali – sanscrit của Ấn Độ. Điều đó chứng tỏ về tổ chức xã hội nguyên Thái đã lập ra hai quốc gia Lào và Thái Lan. Đây là hai quốc gia dân tộc (nation) có hình thái tổ chức cao hơn bản- mường, cơ cấu theo hệ thống dọc, thứ cấp theo bậc trên dưới từ trung ương đến địa phương.

 

Như vậy, vị trí lịch sử của tổ chức xã hội theo mô thức bản – mường mang tính đặc thù Thái và có tầm quan trọng trong việc nghiên cứu xã hội phương Đông nói chung.

 

Tổ chức bản – mường tuy đều đã từng tồn tại ở tất cả các tộc người trong nhóm ngôn ngữ Thái, nhưng ngoài vùng Tây Bắc Việt Nam, người ta không còn tìm thấy nguyên dạng của nó. Nhìn sang phía đông và đông bắc, trong các dân tộc Tày, Nùng, Choang cũng như người Thái ở miền tây Thanh Hóa, Nghệ An, danh từ bản – mường chỉ đọng lại như một dấu ấn của tính phổ biến trong lịch sử. Tại đây, người ta chịu ảnh hưởng đậm nét mô hình tổ chức xã thôn của người Kinh và người Hán, không còn là bản – mường nguyên dạng. Ngược lại, vùng người Thái ở Tây Bắc bao gồm các địa bàn thuộc tỉnh : Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, đặc biệt là Sơn la, Lai châu, trước năm 1954 vẫn còn thấy khá rõ mô hình cấu trúc bản – mường nguyên Thái. Tại đây tổ chức xã hội của mường theo mô hình cơ cấu đồng tâm xoay quanh một trục đã được thể hiện một cách toàn diện trong hệ thống tổ chức một đơn vị châu mường  về một mối có những đặc điểm sau:

 

Mường là một đơn vị tổ chức xã hội có vùng đất đai và đường ranh giới rõ rệt, mang tên “đất mường” (đin mương). Đất đó đã sống trong tâm thức người Thái thể hiện qua câu ca dao:

“Đất mường từ đời tổ (Đin mương té chua đẳm), Đất nước từ đời xưa”(Đin nặm té chua lang).

Với các gia đình hạt nhân – tế bào của xã hội, tổ chức mường không trực tiếp tác động mà thông qua cấp cơ sở bên dưới là bản. Như vậy, bản  là hạ tầng cơ sở, còn mường là hình thái cấu trúc thượng tầng. Ngày nay, mặc dù cấu trúc xã hội Thái theo kiểu  bản – mường  ấy không còn, nhưng danh từ ghép này vẫn được sử dụng để gọi một số khái niệm như: tổ quốc, xã hội, quyền lực xã hội...

 

Tín ngưỡng – Tôn giáo: Người Thái quan niệm đất này vốn phân chia thành hai mường, tương đương với quan niệm về hai  thế giới. Đó là “thế giới của sự sống” tiếng Thái là mương côn (mường người) và “thế giới hư vô” là mương fi (mường phi). Hiểu đúng nghĩa thì “phi” không thể dịch là “ma”, đơn giản như số đông vẫn hiểu. Ma của người Kinh thực chất chỉ là một phần rất nhỏ của “Phi” trong khái niệm ở đây. Thế giới hư vô của người Thái có ba không gian tồn tại. Một là không gian của mỗi con người có phi khoăn  tương đương với “linh hồn” hay “vía”. Hai là không gian “cõi linh” hiểu theo nghĩa cụ thể của  mường phi  được phân thành hai phần. Phần ác gồm các ma thiêng – quỷ dữ có thể do người chết biến thành và cũng có thể có sẵn trong tự nhiên. Phần lành có tổ tiên – phi  đẳm  hay  phi hươn. Ba là không gian của cõi trời có phi  then hay  then.

 

Khoăn – Phi khoăn (Hồn – Linh hồn): Cũng như mọi dân tộc khác, người Thái cho rằng có sự sống là do có linh hồn tồn tại trong thể xác, nhưng quan niệm và cách giải thích thì hoàn toàn mang màu sắc riêng. Thể xác là con người, linh hồn là cái bóng. Ma hoặc người biết làm ma thuật có thể làm hại chính cái bóng đó khiến cho thân xác giật mình, ốm đau hoặc chết. Vậy muốn cho tai qua nạn khỏi thì phải cứu lấy cái bóng đó tiếp tục phù hộ thể xác. Do có quan niệm như thế nên tiếng Thái mới có thuật ngữ “hồn bóng” (khoăn ngau). “Cái bóng” không cảm nhận được bằng các giác quan nên thuộc lĩnh vực siêu nhiên, gọi chung là phi - phi khoăn . Mỗi con người có “30 hồn ở phía trước và 50 hồn ở phía sau” (xam xíp khoăn mang nả hả xíp khoăn mang lăng). Đó là các hồn của từng bộ phận cơ thể như: mắt, tóc, tai, tim, phổi, chân, tay,... Trong đó có hồn chủ là hồn bao trùm, gọi là chính hồn ngụ ở đỉnh đầu – nơi có xoáy tóc. Người Thái gọi chỏm xoáy trên đầu là “đỉnh hồn” (chom khoăn).

 

Vì là một loại phi nên hồn có thể tạm thời tách khỏi thể xác để đi vào “cõi hư vô” (mương phi). Sau đó lại trở về thân xác tiếp tục sống. Ngược lại, nếu hoàn toàn ở lại trong “cõi hư vô” thì thân xác chết. Niềm tin vào các linh hồn như thế đã dẫn đến sự ra đời của nghi thức, nghi lễ. Một là các loại nghi thức và nghi lễ mang tên “sửa sang hồn” (peng khoăn). Hai là nghi lễ trong đời người gọi là “cúng sinh hồn” (xên khoăn). Thường nhật, các linh hồn ngụ ở áo của chủ. Tiếng Thái gọi là áo là xửa nên trở thành thuật ngữ chỉ linh hồn. Nói rõ hơn, nếu không gọi linh hồn là phi khoăn thì cũng gọi là xửa (xửa khoăn). Bởi vậy khi tiến hành các nghi thức, nghi lễ, người ta phải lấy áo của đương sự và người thân thích đặt tại mâm cúng.

 

Linh hồn người tồn tại nhờ có cái gọi là minh, nen, khớ. Minh  là nền để linh hồn trụ. Nen  là trục mọc thành hình chóp chư măng mọc nên mới có tên “măng nen” (nó nen). Trên đỉnh chóp của nen nối với một sợi dây vô hình (sai nen) để buộc vào cái móc (kho nen) ở chạn của then bẩu (hinh then).Chết đồng nghĩa với khái niệm dây nen đứt, móc neni rơi, măng nen đổ. Khái niệm về minh và nen lúc bình thường được thể hiện bằng câu thành ngữ thì: “minh đặt nen dựng” (Minh đa nen tẳng). Vì có quan niệm này nên khi làm các nghi thức, nghi lễ liên quan đến linh hồn, người ta phải làm các nghi thức, nghi lễ sao cho “Minh vững  nen bền” (Minh têm nen mẳn). Khớ còn gọi là khọk với nghĩa là mện. Người Thái quan niệm mệnh người mong manh như sợi chỉ bông nên gọi là sai khớ (dây khớ). Dây khớ  đứt là chết, đồng nghĩa với mệnh tận.

 

Có một lực lượng siêu nhiên giữ chức năng bảo vệ linh hồn mang tên là Một. Đấy là lực lượng siêu nhiên thuộc dòng nữ - Me Một. Người ta nói, có Khoăn thì có Một. Khoăn không có Một thì sẽ chơi vơi, dễ bị ma và các lực lượng ma thuật làm hại; Một càng khoẻ thì linh hồn càng vững. Ngược lại, Một yếu thì thân thể hay lâm cảnh “hồn xiêu phách lạc”. Người bình thường, Một không biểu hiện cụ thể. Có một số người do Một  xuất thần nên biết sử dụng thủ pháp ma thuật. Một xuất thần theo đường hiền thì thành người chuyên làm ma thuật chữa bệnh, tiếng Thái gọi người ấy là Một. Một xuất thần theo đường ác thì không gọi là Một mà tuỳ theo điều chuyên làm ác mà gọi. Ở đây cũng cần phân biệt hai thuật ngữ là Một và Mo. Một là thầy cúng có nam có nữ. Mo có nghĩa chung là người hiểu biết sâu rộng một lĩnh vực nào đó. Nếu biết về đường cúng - lễ thì gọi là Mo phi. Nếu giỏi và hay chữ là Mo năng sư. Nếu giỏi về đường thuốc thì gọi là Mo da…

 

Phi hươn, Phi đẳm, Phi Pảu pú, Phi pú đa, Phi hóng (Tổ tiên): Người Thái theo tục cúng tổ tiên, không theo bất cứ tôn giáo ngoại tộc nào. Đây là đặc trưng nổi bật trong tôn giáo – tín ngưỡng Thái. Khi chết, linh hồn đầu (hồn chủ) hoá kiếp về cõi đẳm để trở thành tổ tiên, tồn tại mãi mãi ở “cõi vĩnh hằng”. Nơi thờ cúng tổ tiên (phi hươn) đặt ở gian gọi là hóng bên phía quản (xem sơ đồ mặt bằng nếp nhà sàn truyền thống nhóm Thái Đen ở Thuận Châu – Sơn la, phần Văn hoá vật chất, mục Nhà cửa). Với nhóm Thái Đen, lễ cúng tổ tiên gọi là “cúng nhà” (xên hươn) được xem như ngày tết. Dịp vui của một nóc nhà mà thu hút sự tham gia của bà con trong bản và một vùng rộng lớn. Vật hiến tế là lợn to. Cúng xong đặt bàn cỗ mừng. Người đọc khấn lễ là Mo không phải Một. Ngày cúng cũng là ngày vui, người ta uống rượu, hát đối đáp theo làn điệu dân ca suốt ngày thâu đêm, đánh trống, chiêng, xoè múa, hát hò. Người Thái Đen xưa không ăn tết Nguyên Đán như người Hán, Kinh, Thái Trắng. Ngày nay, hai sự kiện: “Cúng nhà” và tết Nguyên đán thường kết hợp làm một.

 

Bản - Mường là một thể thống nhất tâm linh, có nhiều linh hồn và một linh hồn chủ. Linh hồn bản - mường gồm tất cả các linh hồn của mọi thành viên trong một đơn vị cư dân mang tên bản  hay  mường. Hồn chủ là linh hồn của người được bản - mường chọn áo để cúng. Người Thái gọi người đó là chảu xửa, chủ áo, chủ các linh hồn. Chảu xửa ở bản trước tiên là ông cha người có công khai phá ra bản đó, nay con cháu vẫn tiếp tục đưa ra làm người đứng đầu bản. Cũng có thể về sau, con cháu của người có công khai phá bản đó không giữ chức đứng đầu bản nhưng vẫn được người ta chọn là chảu xửa. Nếu đã quên người khai phá, lập bản đầu tiên, nhất thiết phải coi người đứng đầu bản là chảu xửa.

 

Chảu xửa của mường là người đứng đầu thuộc dòng quý tộc cai quản mường đó. Họ phải là người thuộc con cháu của lớp tạo đầu tiên có công dẫn dắt người Thái trong mường dựng nên tổ chức của mường đó. Bởi vậy thủ lĩnh châu mường, phìa, tạo thường cũng là chảu xửa. Tuy nhiên, trường hợp ngoại lệ, một mường có một người làm thủ lĩnh, một người khác đứng làm chảu xửa gọi là tạo chảu xửa. Đó là trường hợp đứng đầu mường là người thuộc một dòng quý tộc ở nơi khác được cử đến thay thế. Linh hồn của mường cũng có  minh, nen như linh hồn cá thể.  Minh, nen  ngụ ở một quả núi nương bóng bên dòng sông, suối được người ta chọn, đặt tên là pom minh mương hay pom nen mương.

 

Thành phần  phi bản, phi mường  gồm cả “thế giới của linh hồn bất biến” gọi chung là phi đẳm. Khi các thành viên của  bản, mường chết đi, tất cả linh hồn của họ “tiếp tục tái sinh” ở cõi phi do tổ tiên của quý tộc làm chủ. Phi bản, phi mường còn có lực lượng thần linh là chủ các khe suối, dòng sông, ngọn núi trong phạm vi đất mường, được hợp lại gọi chung là Chủ nước- chủ đất (chảu nặm - chảu đin), Khe suối lớn, sông con chảy qua đất của mường còn có nơi được chọn để thờ Chủ cõi nước gọi là  Văng mương, hay Phi mương. Hình thức cúng  bản - mường được tập trung ở đất chiềng. Như Mường Mụa (Mai Sơn- Sơn la) có đến 12 kiểu cúng. Đây chính là lễ hội của mỗi đơn vị mường của người Thái xưa.

 

Ngày nay, việc cúng bản, cúng mường đã hoàn toàn biến mất. Người ta cũng nghĩ rằng với phong trào phục hồi lễ hội truyền thống, có thể cho cúng bản, cúng mường ở mức độ thích hợp với việc bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc chăng? Nhưng cho đến nay cũng chưa có cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào bàn đến truyền thống sinh hoạt văn hoá này ở cư dân Thái.

 

Phi phạ - Phi then (Cõi trời): Theo quan niệm xưa, cõi trời là thế giới chứa đựng mọi lực lượng quyết định tất cả sự việc và hiện tượng trên mặt đất. Đối với họ, cõi trời cũng là một mường nên có tên Mường phạ. Mường phạ do các vị Then làm chủ nên còn gọi là Mường Then. Mường phạ chia làm hai phần. Một là nơi chứa đựng “những linh  hồn bất biến” gọi là đẳm hay đẳm pang. Hai là nơi ngụ của các vị Then do Then Luông (lớn) làm chủ. Then luông tương tự như Ngọc Hoàng thượng đế cuả người Kinh. Việc cúng Then bao giờ cũng gắn với lễ nghi cúng linh hồn người và linh hồn bản - mường. Ngày nay, việc cúng bái này cũng không còn thấy ở đâu tổ chức nữa.

 







Bản quyền Vườn quốc gia Pù Mát
Địa chỉ: Xã Chi Khê, Huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An
Điện thoại/Fax: 038.3873374   Email: vqgpm@hn.vnn.vn
Website sử dụng giải pháp YoMedia Portal