Đăng Nhập

 Dân số của KDTSQ

Dân số của KDTSQ: 473 822 người

1 Vùng lõi:

Vùng lõi 1 (Pù Mát): ________0 người____

Vùng lõi 2 (Pù Huống): ___0 người____

Vùng lõi 3 (Pù Hoạt):____0 người___

 

2 Vùng đệm:

200 926 người

Vùng đệm 1 (Pù Mát): _______93 335 người________

Vùng đệm 2 (Pù Huống): ___49 699 người____

Vùng đệm 3 (Pù Hoạt):___57 892 người____

 

3 Vùng chuyển tiếp:

Vùng chuyển tiếp: 272 896 người

 

4 cộng đồng địa phương sống  trong và gần khu dự trữ sinh quyển  

Trong số các dân tộc anh em sống trong khu DTSQ đề xuất thì dân tộc Thái có dân số đông nhất (chiếm 66,89%) và ít nhất là dân tộc Ơ Đu (chiếm 0,6%). Sinh sống trong 3 huyện thuộc khu vực VQG Pù Mát có 3 dân tộc chính là: Thái, Khơ Mú, Kinh. Ngoài ra còn có một bộ phận dân cư thuộc các dân tộc khác như: Tày, H’Mông, Poọng, Ơ Đu. Toàn bộ dân số trong 16 xã thuộc VQG Pù Mát là 16 954 hộ với 93 335 nhân khẩu. Phần lớn dân cư ở đây được phân bố trong 7 xã của huyện Con Cuông (39 419 nhân khẩu với 7 167 hộ) và 5 xã thuộc huyện Anh Sơn (38 163 nhân khẩu với 6 938 hộ), số còn lại thuộc 4 xã của huyện Tương Dương (15 753 nhân khẩu với 2 849 hộ), trung bình mỗi hộ gia đình có từ 5-6 người. Như vậy số người sinh con thứ 3, thứ 4 vẫn còn rất phổ biến, điều này sẽ tạo ra một áp lực to lớn về vấn đề tăng dân số trong những năm sau này.

 

Bảng 10  : Thành phần dân tộc, dân số và tỉ lệ trong khu vực VQG Pù Mát

 

Tên dân tộc

Số hộ

Số người

Tỷ lệ %

Thái

11 338

62 435

66,89

Khơ Mú

1984

13 765

14,75

Kinh

2531

10.498

11,25

H’Mông

599

3 714

3,98

Đan Lai

265

1 494

1,60

Poọng

132

813

0,87

Ơ Đu

96

563

0,60

Dân tộc khác

9

53

0,06

Tổng cộng

16 954

93 335

100,00

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Con Cuông, Anh Sơn, Tương Dương, năm 1999.

 

Dân số trong khu vực phân bố không đồng đều giữa các xã. Một số xã có mật độ dân số rất thấp như xã Tam Hợp huyện Tương Dương (7 người/km2), xã Châu Khê huyện Con Cuông (13 người/km2), nhưng bên cạnh đó có những xã có mật độ dân số cao như xã Đỉnh Sơn (495 người/km2), xã Cẩm Sơn (421 người/km2) của huyện Anh Sơn. Phân bố lực lượng lao động cũng chủ yếu tập trung ở các xã vùng thấp của huyện Anh Sơn. Phần lớn các hoạt động sản xuất là nghề nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi gia súc, gia cầm. Một số ít người làm trong các lĩnh vực khác như y tế, giáo dục, dịch vụ… Điều này phần nào gây sức ép tới tài nguyên rừng vì kế mưu sinh.

 

Khu BTTN Pù Huống nằm trong địa giới hành chính của 12 xã thuộc 5 huyện: xã Cắm Muộn, Quang Phong (huyện Quế Phong); xã Châu Thành, Châu Cường và Châu Thái (huyện Quỳ Hợp); xã Châu Hoàn, Diễn Lãm (huyện Quỳ Châu); xã Bình Chuẩn (huyện Con Cuông); và các xã Nga My, Yên Hoà, Yên Tĩnh à Hữu Khuông (huyện Tương Dương) tiếp giáp với ranh giới Khu bảo tồn với diện tích là 110 883 ha (Nguyễn Ngọc Chính và cộng sự 1996). Vùng đệm của Khu BTTN Pù Huống có bốn dân tộc cùng sinh sống là người Kinh, Thía, Khơ mú và H’Mông. Dân cư hiện đang sinh sống tại các bản gần ranh giới Khu bảo tồn là 8 535 hộ với 49 699 nhân khẩu, trong đó có bản Na Kho, xã Nga My huyện Tương Dương đang sinh sống trong Khu bảo tồn (Ban quản lý khu BTTN Pù Huống, 2002).

 

Toàn bộ các xã vùng đệm Khu bảo tồn là các xã vùng sâu vùng xa thuộc diện đặc biệt khó khăn trong chương trình 135. Các hoạt động kinh tế của cộng đồng dân cư vùng đệm là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và tham gia khai thác lâm sản. Thu nhập chính của đại bộ phận người dân trong vùng từ nông nghiệp và chăn nuôi. Tuy nhiên, trong vùng vẫn có những hộ gia đình có nguồn thu tiền mặt chủ yếu từ thu hái lâm sản. Nhìn chung, mức sống của người dân trong vùng rất thấp do họ chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghệp trong khi thiếu đất canh tác, thiếu vốn đầu tư, chưa áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất và họ cũng không có nghề phụ.

 

Cơ sở hạ tầng ở các xã vùng đệm gặp nhiều khó khăn. Hầu hết tất cả các xã chưa tiếp cận với lưới điện quốc gia, phần lớn dân trong vùng dùng máy thuỷ điện nhỏ. Hệ  thống giao thông trong vùng rất khó khăn, phần lớn các xã có thể tiếp cận bằng đường ô tô song là đường đất, hệ thống cầu chưa được xây dựng nên rất khó tiếp cận trong mùa mưa. hiện tại một vài xã chỉ có thể tiếp cận bằng đường sông như xã Hữu Khuông, Yên Tĩnh huyện Tương Dương. Mạng lưới giáo dục đã tới các thôn bản song chưa đảm bảo chất lượng phục vụ. Cũng như giáo dục, hệ thống y tế chăm sóc sức khoẻ cũng gặp khó khăn về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và chất lượng cán bộ.

 







Bản quyền Vườn quốc gia Pù Mát
Địa chỉ: Xã Chi Khê, Huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An
Điện thoại/Fax: 038.3873374   Email: vqgpm@hn.vnn.vn
Website sử dụng giải pháp YoMedia Portal