Đăng Nhập

 Tai biến địa chất

 

Về hiện trạng tai biến địa chất, chúng tôi đã kế thừa kết quả nghiên cứu của đề tài độc lập cấp Nhà Nước về nghiên cứu tai biến địa chất khu vực Bắc Trung Bộ do TS. Trần Trọng Huệ làm chủ biên, có kết hợp với quan sát bổ sung về nứt sụt đất. Các loại hình tai biến địa chất chủ yếu ở Tây Nghệ An được nghiên cứu đánh giá qua 6 loại hình tai biến: nứt- sụt đất, trượt lở, lũ quét- lũ bùn đá, xói mòn, bồi- lở bờ sông và động đất.

 

 

 

1. Nứt- sụt đất

 

Khu vực Huổi Giảng: nằm ở phía Tây Nam thị trấn Kỳ Sơn, cách thị trấn 5 km, điểm sụt đất diễn ra tương đối rộng với diện tích 1,5 km2, bao gồm 3 khối sụt liên tiếp nhau, chiều dài mỗi khối sụt đạt tới 200 m, có phương Đông- Bắc Tây nam, trên địa hình các dấu vết còn lại là các vách gần dốc đứng và các khối sụt xảy ra trên sườn địa hình có độ dốc 45° và được cấu tạo bởi đá cát, bột kết và đá phiến.

 

 

 

Khu vực bản Sốp Tháp: nằm cách bản Huổi Nhị 3 km về phía Đông Nam, tại đây quan sát thấy 3 khối sụt lên tiếp nhau xảy ra trên các vai của các dãy núi và tạo nên một chuỗi kéo dài theo phương gần á vĩ tuyến, các dấu vết còn lại là những vách dốc đứng, địa hình xảy ra các khối sụt được cấu tạo bởi đá cát kết, quăczit.

 

 

 

Khu vực Khe Bố: điểm nứt, sụt xảy ra tại khu vực bản Sơn Hà, các vết nứt và khối sụt ở đây có dạng vòng cung, trên địa hình đồi có độ dốc 25° - 30° đồng thời còn quan sát thấy một vết nứt kéo dài 150 m, khối trượt đã lấp một đoạn của khe suối nhỏ, thành phần của khối sụt là vỏ phong hoá của đá cát, bột kết.

 

 

 

Khu vực bản Xốp Chao: quá trình nứt, sụt xảy ra trên sườn của địa hình có độ dốc 30°, chúng phân bố ở cả hai bên của thung lũng Nậm Chao, kéo dài theo phương á vĩ tuyến với chiều dài 300 m. Trên vách của khối sụt còn để lại các vách dốc đứng và cắt qua cả tầng đá gốc cát, bột kết. ở sát dưới chân sườn của dãy núi này còn quan sát thấy một vài khối sụt cổ.

 

Ngoài một số khu vực nứt, sụt đất điển hình đã mô tả ở trên trong khu vực nghiên cứu còn xuất hiện hàng loạt các quá trình sạt lở với quy mô nhỏ hơn từ một vài mét đến hàng chục mét, chúng phân bố rải rác ở nhiều nơi đặc biệt là ở những vùng núi và hai bên bờ các sông lớn như ở các khu vực Con Cuông, Tương Dương, Quế Phong, Quỳ Hợp. v.v..

 

 

 

2. Tai biến trượt đất

 

Trượt lở đất là dạng tai biến địa chất phát triển trên diện rộng, gây những thiệt hại lớn đối với nhiều khu vực ở miền núi Nghệ An. Dạng tai biến này có sự gia tăng trong những năm gần đây ở một số nơi. Trượt lở ghi nhận được trên các tuyến giao thông, các tụ điểm dân cư khu vực đồi núi. Quy mô, mức hoạt động của tai biến biểu hiện sự khác nhau theo khu vực, nhưng tập trung nhất là ở các khu vực đồi núi trong đó những nơi đặc biệt bị ảnh hưởng của trượt lở đất là các huyện thuộc Tây Nghệ An.

 

 

 

Nghiên cứu hiện trạng tai biến trượt lở đã chỉ ra sáu nguyên nhân chính gây tai biến: địa hình và độ dốc sườn; đá gốc và vỏ phong hoá; đặc điểm cấu trúc kiến tạo và hoạt động kiến tạo hiện đại; yếu tố thuỷ văn; độ che phủ rừng, yếu tố con người. Trên cơ sở nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đối với trượt lở tiến hành phân vùng nguy cơ trượt lở thành các cấp: vùng nguy cơ trượt lở mạnh; vùng nguy cơ trượt lở trung bình; vùng nguy cơ trượt lở yếu và vùng có nguy cơ lở đá.

 

 

 

3. Tai biến lũ quét- lũ bùn đá

 

Trong những năm gần đây, tai biến lũ quét- lũ bùn đá ở BTB nổi lên là loại hình tai biến địa chất nguy hiểm, gây thiệt hại to lớn về nhiều mặt, trong đó cả tính mạng con người. Do là loại tai biến xảy ra bất ngờ, lại tập trung xuất hiện vào thời kỳ mưa lớn ở BTB nên mối nguy hại do tai biến luôn luôn ở mức độ cao. Ở BTB cả ba dạng lũ quét: lũ quét nghẽn dòng, lũ quét sườn, lũ quét hỗn hợp đã xảy ra đều khắp trên phạm vi 6 tỉnh. Trong đó lũ quét nghẽn dòng là dạng phát triển rầm rộ nhất. Thực tế điều tra cho thấy, ở khu vực đồi núi lũ quét- lũ bùn đá thường là dạng tai biến đồng hành với nứt - sụt đất, trượt lở đất, xói mòn đất nên những thiệt hại gia tăng gấp bội và phát triển trên diện rộng ở nhiều tỉnh. Phân vùng dự báo cho lũ quét- lũ bùn đá được đánh giá theo các dạng khác nhau:

 

Lũ quét nghẽn dòng và hỗn hợp được xác định theo các dấu hiệu: Có sông suối cắt qua; thung lũng bao bọc bởi địa hình núi hay nơi tiếp giáp giữa đồng bằng và miền núi; có sự thu hẹp dòng chảy (do địa hình hay công trình); phạm vi phân bố của các trầm tích Đệ tứ; nơi có đứt gãy kiến tạo cắt qua hoặc giao nhau; có lượng mưa và cường độ mưa lớn; độ che phủ của thảm thực vật. Trên cơ sở đánh giá các yếu tố trên đã phân vùng lũ quét nghẽn dòng thành các vùng nguy cơ: rất cao, cao, trung bình và thấp.

 

Lũ quét sườn được xác định theo các dấu hiệu: Độ dốc sườn; tỷ số % diện tích đất không thấm trong lưu vực (mức độ khai thác của lưu vực); hệ số đặc trưng khả năng vận chuyển nước của lưu vực; lượng mưa ngày với tần xuất 1%; mật độ sông suối lưu vực; hệ số dòng chảy lũ.

 

Lũ bùn đá dự báo trên cơ sở phân tích mức độ tác động của các yếu tố: Mức độ phân dị địa hình, độ dốc sườn; các thành tạo địa chất phong hoá; hoạt động địa chấn; đới đứt gãy và đới đứt gãy hoạt động hiện đại; mưa và thảm thực vật; hoạt động nhân sinh kinh tế. Trên cơ sở đánh giá các yếu tố trên đã phân vùng lũ quét sườn và lũ bùn đá thành các vùng nguy cơ: lũ quét rất mạnh, lũ quét mạnh, lũ quét trung bình và lũ bùn đá.

 

 

 

4.  Tai biến xói mòn

 

Bắc Trung bộ có địa hình phân dị phức tạp, có độ dốc sườn lớn lại bị chi phối bởi khí hậu khắc nghiệt: nắng, gió, bão, mưa nên quá trình xói mòn đất xảy ra mạnh mẽ. Hiện tượng xói mòn thể hiện dưới ba dạng: xói mòn bề mặt, xói mòn xẻ rãnh, xói mòn do gió. Từ hiện trạng thực tế cùng với việc áp dụng tính toán tốc độ xói mòn trên cơ sở kết quả khảo sát và phân tích mẫu thu thập được cho thấy lượng đất bị bóc đi hàng năm theo lưu vực sông Sông Cả: 20,34 tấn/ha/năm.

 

Xói mòn đất không phải loại tai biến gây chết người, song tác hại của quá trình này vô cùng lớn lao:

 

Xói mòn huỷ hoại lớp thổ nhưỡng bề mặt, làm mất chất dinh dưỡng tạo nên ngày càng nhiều các khu vực đất trống đồi núi trọc.

 

Xói mòn gây bồi lấp ruộng đồng ở các khu vực vạt sườn, hạ du; gây biến động lòng dẫn sông suối hoặc ách tắc dòng chảy; bồi lấp hồ chứa.

 

 

 

Tai biến xói mòn thường là các dạng đồng hành cùng với lũ quét- lũ bùn đá, trượt lở, nứt- sụt đất.

 

Các nguyên nhân phát sinh xói mòn bao gồm: Yếu tố địa hình khu vực; yếu tố khí tượng thuỷ văn; yếu tố vỏ phong hoá; lớp phủ đất và hiện trạng sử dụng đất; yếu tố thảm thực vật.

 

 

 

5.  Tai biến bồi- lở bờ sông

 

Bồi- lở bờ sông là tai biến địa chất biểu hiện dưới dạng tác động phá hoại bờ và bồi lấp lòng sông.

 

 

 

6. Động đất:

Miền bắc Việt Nam là nơi có độ hoạt động động đất mãnh liệt nhất trên toàn lãnh thổ. Phần lớn động đất đã xảy ra ở đây, với 3 trận động đất mạnh với magnitude đạt tới 6,6 - 6,7 độ Ríchter đã quan sát thấy trong thế kỷ 20. Tất cả các chấn tiêu động đất đều nằm trong lớp vỏ quả đất, ở độ sâu không quá 35 km. Ở phần Bắc Trung Bộ, động đất tập trung chủ yếu dọc đới đứt gẫy Sông Cả-Rào Nậy. Một đặc điểm đáng chú ý nữa của hoạt động động đất trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam là sự thay đổi độ sâu chấn tiêu từ đới này sang đới khác, nhưng trong phạm vi từng đới thì độ sâu chấn tiêu ít thay đổi. Như vậy, có thể kết luận rằng biểu hiện động đất ở Việt Nam có tính phân đới và liên quan khá chặt chẽ với các đới phá huỷ và các đứt gẫy sâu hoạt động. Bức tranh về độ nguy hiểm động đất ở Việt Nam sẽ trở nên rõ nét và có ý nghĩa thực tiễn hơn nhiều nếu được xét một cách chi tiết trên cơ sở các vùng nguồn phát sinh động đất.


 







Bản quyền Vườn quốc gia Pù Mát
Địa chỉ: Xã Chi Khê, Huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An
Điện thoại/Fax: 038.3873374   Email: vqgpm@hn.vnn.vn
Website sử dụng giải pháp YoMedia Portal