Đăng Nhập

 Đặc điểm khí hậu

Khu DTSQ đề xuất nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông bắc và Tây Nam. Do địa hình của dãy Trường Sơn ảnh hưởng mạnh đến hoàn lưu khí quyển đã tạo nên sự khác biệt lớn trong phân hoá khí hậu khu vực. Các số liệu về khí hậu quan trắc nhiều năm của các trạm khí tượng Tương Dương, Con Cuông, Đô Lương và Vinh được tóm tắt trong bảng dưới đây

 

 

 

 

Bảng 12:  Các nét đặc trưng khí hậu khu vực được đo đạc tại 4 trạm khí tượng của tỉnh Nghệ An

 

 

 

 

Các nhân tố khí hậu

Trạm khí tượng

Tương

Dương

Con Cuông

Đô

Lương

Vinh

 

Toạ độ trạm: Vĩ độ

 

                    Kinh độ

 

19o17’

 

104o26’

 

19o03’

 

105o53’

 

18o54’

 

105o18’

 

18o40’

 

105o40’

Thời gian quan trắc (năm)

40

40

40

86

Nhiệt độ trung bình năm (oC)

23o6

23o5

23o7

23o9

Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối

42,7oC/5

42oC/4

41,1oC/5

42,1oC/6

Nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối

1,7oC/1

2,0o/1

5oC/1

4oC/1

Tổng lượng mưa năm (mm)

1268,3

1791,1

1706,6

1944,3

Số ngày mưa/năm (ngày)

133

153

138

138

Lượng mưa ngày lớn nhất (mm)

192/8

449,5/9

788/9

484/9

Lượng bốc hơi năm (mm)

867,1

812,9

789,0

954,4

Số ngày có sương mù (ngày)

20

16

26

27

Độ ẩm không khí bình quân năm (%)

81

86

86

85

Độ ẩm không khí tối thấp bình quân (%)

59

64

66

68

Độ ẩm không khí tối thấp TĐ (%)

9/I

14/III

21/XI

15/X

Độ cao (m)

97

27

6

6

 

 

 

 

 

Một số hiện tượng thời tiết đặc trưng:

 

Gió Tây khô nóng: đây là vùng chịu ảnh hưởng có gió Tây khô nóng. Hoạt động của gió Tây thường gây nên hạn hán trong thời kỳ đầu và giữa mùa hè (tháng 5-7). Trong những ngày này nhiệt tối cao có thể vượt quá 40oC và độ ẩm tối thấp xuống dưới 30%.

 

 

 

 

 

Mưa bão: Vùng này ít chịu ảnh hưởng của mưa bão, hai tháng nhiều bão nhất là tháng 9 và tháng 10. Bão tuy đã yếu nhưng thường kèm theo mưa lớn và lụt lội. Trạm Tương Dương đặc trưng cho chế độ khí hậu phía Bắc VQG (Khe Thơi), nơi đây lượng mưa khá thấp (1268 mm/năm), số ngày mưa chỉ có 133 ngày. Nhưng lên các đai cao hơn lùi về Con Cuông thì chế độ mưa ẩm tăng dần (số ngày mưa lên tới 153 ngày và lượng mưa là 1791 mm/năm). Nhìn chung đây là một trong những vùng có chế độ khí hậu ít thuận lợi của tỉnh Nghệ An.

 

 

 

 

 

Khu BTTN Pù Huống thuộc khí hậu miền Trường sơn Bắc, miền này có khác với Đông Bắc và Tây Bắc nhưng riêng Pù Huống lại có những đặc thù riêng. Khí hậu không những phân hóa theo độ cao từ 200 m đến 1600 m mà còn phân hóa do ảnh hưởng yếu dần của mùa Đông Bắc tới sườn Bắc Pù Huống và sườn Nam lại chịu ảnh hưởng của vùng khô hạn điển hình Mường Xén-Kỳ Sơn. Sự mạnh lên của gió mùa Tây Nam và suy yếu của gió mùa Đông Bắc khi tới Pù Huống tạo nên những nét riêng của Pù Huống. Chế độ nhiệt, mưa ẩm, số ngày mưa và ẩm độ cũng sai khác qua các trạm bao quanh Pù Huống như: Tương Dương, Con Cuông, Quỳ Châu…

 

 

 

 

 

Qua bảng thống kê theo dõi khí tượng cho thấy sự chênh lệch và khác biệt giữa hai triền của Pù Huống: triền Bắc với các trạm Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tây Hiếu do có ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, và tiểu khí hậu miền đã có số ngày mưa, lượng mưa, độ ẩm, số ngày mưa phùn, cao hơn triền Nam là Tương Dương. Trạm Tương Dương cho thấy các chỉ số về mưa ẩm đã thấp, các chỉ số về nóng, bốc hơi, khô hạn lại cao hơn triền phía Bắc như: lượng bốc hơi năm, nhiệt độ mặt đất, nhiệt độ không khí tối cao thấp. Sự khác biệt này tạo nên sự đa dạng kỳ thú ở hai triền núi cao trên 1000 m thường xuyên có mây mù và ẩm độ cao hơn tại vùng ranh giới chân núi. Điều đó in rõ nét lên sự phân bố và thành phần các loài thực vật.

 

 

 

 

 

Khu BTTN Pù Hoạt vào mùa hạ chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam từ vịnh Bengal tới Hửa Phăn và tác động mạnh đến sườn Tây Pù Hoạt phía Lào, khi vượt qua sườn bị hiện tượng “phơn” không khí bị nóng lên, hoạt động của gió này thể hiện rõ vào các tháng V, VI. Gió mùa Đông Bắc và mùa Đông có yếu đi khi tới Pù Hoạt và càng yếu hẳn khi vượt qua Pù Hoạt sang địa phận huyện Hửa Phăn của Lào.

 

           

 

Chế độ mưa, nhiệt ẩm trên tương đối đồng nhất với vùng thấp của huyện Quế Phong, tới độ cao 300-400 m, nhưng càng về phía Tây, tức là độ cao càng tăng lên thì lượng mưa có tăng lên và nhiệt độ có giảm đi. Theo đường đẳng mưa, lên đến ranh giới khu bảo tồn lượng mưa hàng năm tăng lên tới 1900 mm, lên tới vùng núi cao của các dãy núi Pù Cao Mạ, Pù Pha Nhà, Pù Hoạt (trên 1700 m) lượng mưa tăng lên tới trên 2200 mm và đây là một trong các điểm có lượng mưa cao nhất ở tỉnh Nghệ An. Về nhiệt độ, vào đến trung tâm Khu Bảo tồn có hạ xuống, mát mẻ hơn vùng chân núi phía ngoài, theo đường đẳng nhiệt, nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 19-20°C.

 

 

Chế độ mưa ẩm nhiệt thay đổi rõ nét ở các giai đoạn khác nhau, điều này thể hiện rõ ở sự phân bố của các loài thực vật và các kiểu thảm thực vật phân thành đai khi ta khảo sát từ chân núi lên đỉnh núi.

 

 

Các số liệu về khí tượng được tóm tắt trong các tài liệu lưu trữ của các trạm khí tượng là Quì Châu, Quì Hợp, Tây Hiếu, Quế Phong, Tương Dương, Con Cuông.

 

 

 

 

 

Bảng 13: Những nét khí hậu đặc trưng của khu DTSQ đề xuất

 

Đặc trưng khí hậu

Quỳ Châu

Quỳ Hợp

Tây

Hiếu

Tương Dương

Con Cuông

Nhiệt độ trung bình năm (0c)

23,1

23,3

23,0

23,6

23,5

Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối (0c)

41,3

40,8

41,6

42,7

42,0

Nhiệt độ mặt đất trung bình (0c)

26,4

26,7

26,7

27

26,4

Lượng mưa trung bình năm (mm)

1734,5

1640,9

1591,7

1268,3

1791,0

Lượng mưa trung bình ngày lớn nhất (mm)

290

208

279

192

449

Số ngày mưa trung bình năm (ngày)

150

142

137

133

139

Số ngày mưa phùn trung bình năm (ngày)

19,6

17,9

25

5,6

22

Lượng bốc hơi trung bình năm

703,9

945,4

835,2

867,1

812,9

Độ ẩm trung bình năm (%)

86

84

81

64

81

Độ ẩm tối thấp trung bình năm (%)

65

60

63

59

64

 

 

 

 

Chế độ thủy văn khu vực Pù Mát được các trạm thủy văn đo đạc và lưu trữ cho thấy trong khu vực có hệ thống sông Cả chảy theo hướng TB – ĐN. Các chi lưu phía hữu ngạn như Khe Thơi, Khe Choang, Khe Khặng lại chảy theo hướng Tây Nam lên Đông Bắc và đổ nước vào sông Cả. Dưới góc độ giao thông thuỷ thì cả ba con sông trên đều có thể dùng bè mảng đi qua một số đoạn nhất định, riêng Khe Choang, Khe Khặng có thể dùng thuyền máy ngược dòng ở phía hạ lưu. Nhìn chung mạng lưới sông suối khá dày đặc. Với lượng mưa trung bình năm từ 1300-1400 mm, nguồn nước mặt trên diện tích của VQG lên tới hơn 3 tỷ m3. Song lượng nước đó phân bố không đều giữa các mùa và các khu vực nên tình trạng lũ lụt và hạn hán thường xuyên xảy ra.

 

 

 

 

Thủy văn vùng Pù Hoạt thuộc là vùng đầu nguồn của hai hệ sông: sông Chu ở phía Bắc bắt nguồn từ phía Tây Pù Hoạt (Lào) với tên là Nậm Xam chảy qua huyện Hửa Phăn, vào Việt Nam với tên là sông Chu, hệ sông Hiếu với các suối Nậm Việc, Nậm Giải, Nậm Quang. Các hệ suối chính kể trên đều chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam, cách nhau từ 10 – 25 km. Dòng chảy mạnh, thường xuyên có nước cả mùa khô, mật độ suối nhánh từ 2 – 4 km/suối. Do địa hình chia cắt sâu, đôi chỗ do đứt gẫy mạnh đã hình thành nên nhiều thác nước trong Khu bảo tồn mà thác lớn nhất có giá trị cảnh quan du lịch là thác Sao Va. Những kết quả khảo sát năm 1997 cho thấy rừng Pù Hoạt có bị tác động ở một số điểm ven suối gần làng bản, nhưng tính nguyên sinh còn giữ được ở phần lớn diện tích với tỷ lệ cao.


 







Bản quyền Vườn quốc gia Pù Mát
Địa chỉ: Xã Chi Khê, Huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An
Điện thoại/Fax: 038.3873374   Email: vqgpm@hn.vnn.vn
Website sử dụng giải pháp YoMedia Portal