Đăng Nhập

 Đặc điểm về địa hình, địa mạo

1. Địa hình

1.1 Độ cao cao nhất so với mực nước biển : _____2000__ mét

1.2 Độ cao thấp nhất so với mực nước biển: ______________ mét

1.3 Đối với những vùng ven biển/vùng biển, độ sâu lớn nhất dưới mực nước biển trung bình (maximum depth below mean sea level):

____________ mét

 

2. Đặc điểm địa mạo

Kết quả nghiên cứu các đặc điểm địa mạo thuộc các huyệnTương Dương, Con Cuông, Kỳ Sơn, Quỳ Hợp và Quế Phong  thuộc tỉnh Nghệ An cho thấy độ cao địa hình nhìn chung thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Bậc địa hình cao nhất phân bố dọc theo biên giới Việt - Lào thành một dải dài theo phương Tây Bắc- Đông Nam tạo thành các đỉnh như đỉnh Pù Hoạt, Pù Miêng, Pù Samtie, Pù Tong Chinh, Pù Xông, Pù Xai Lai Leng với độ cao từ 2000-2700 m. Thấp nhất là các bề mặt đáy thung lũng với độ cao từ 0-10 m phân bố dọc theo sông Cả và các sông suối trong khu vực. Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu thực tế, bản đồ địa mạo ảnh, bản đồ trắc lượng hình thái và các tài liệu có trước địa hình khu vực nghiên cứu được chia thành hai nhóm bề mặt địa hình chính:

 

2.1. Nhóm bề mặt nguồn gốc tích tụ

Khu vực nghiên cứu có hệ thống sông suối khá dày đặc song các sông suối đều ngắn, dốc, lòng hẹp, nước chảy xiết do đó ít thuận lợi cho việc hình thành địa hình tích tụ. Vì lẽ đó địa hình tích tụ chỉ chiếm điện tích rất nhỏ (khoảng 2% ), bao gồm bãi bồi, bậc thềm I, bậc thềm II, bậc thềm III, bề mặt tích tụ sườn - lũ tích, bề mặt tích tụ sông - lũ tích.

 

Bãi bồi hiện đại: Bề mặt bãi bồi hiện đại chiếm diện tích bé phân bố dọc theo sông hoặc ven mép nước dọc theo sông Lam và các sông suối khác trong vùng. Độ cao tương đối 0-2 m. Bãi bồi được tích tụ bởi các trầm tích bở rời: cuội, sỏi, tảng, lẫn cá bột sét tuổi Holocen muộn. Đối với các suối nhỏ, bãi bồi có thành phần chủ yếu là hạt thô, còn đối với sông Lam, sông Nậm Mô, suối Bành Thoong, suối Nậm Chon các bãi bồi có thành phần hạt mịn là chính.

 

Địa hình bề mặt bãi bồi khá bằng phẳng, hơi nghiêng về phía dòng chảy hiện đại. Chiều rộng không lớn, kéo dài gần như liên tục dọc theo các sông suối và thường bị ngập nước vào mùa mưa. Phần lớn bề mặt này ở vùng thượng nguồn thường bị thu hẹp lại khoảng 5-10 m, đôi nơi không thể hiện rõ bãi bồi. Quá trình xâm thực sâu phát triển mạnh tạo nên các thung lũng xâm thực dạng chữ “V”. Do lưu lượng dòng chảy ở các sông suối lớn nên quá trình họat động xâm thực bồi tụ xảy ra mạnh, các bãi bồi liên tục thay đổi về hình dạng và vị trí qua các mùa mưa lũ.

Bề mặt bãi bồi có cát cuội sỏi làm vật liệu xây dựng cho địa phương

 

Thềm sông bậc I: Bậc thềm này chiếm diện tích nhỏ, có độ cao tương đối từ 2-4 m, so với mặt nước sông. Chúng phân bố dọc theo sông Cả và các suối chính. Thềm bậc I được cấu tạo bởi bột sét lẫn cát, cuội sỏi màu xám nhạt thuộc trầm tích sông tuổi Holocen sớm-giữa. Bề mặt thềm khá bằng phẳng, hơi nghiêng về phía thung lũng với chiều rộng trung bình 200-300 m, rộng nhất là vùng Tương Dương và Na Ca tới 700-800 m, kéo dài liên tục dọc theo cácc sông suối trong vùng. Hiện tại bề mặt thềm chịu tác động mạnh mẽ của quá trình xâm thực ngang của dòng chảy, đồng thời thềm đã và đang được con người cải tạo trồng lúa và hoa màu.

 

Thềm sông bậc II: Bề mặt thềm II phân bố thành dải hẹp phía bên trên của thềm bậc I  ở khu vực thị trấn huyện Tương Dương, Bản Lũng xã Tam Thái và ở xã Bình Chuẩn. Độ cao tương đối của thềm là 4-6 m.Thềm được cấu tạo bởi trầm tích bở rời: bột sét lẫn cát, cuội sỏi, sạn dày 1,5-3 m, phần trên bị phong hoá mạnh nên có màu loang lổ, thuộc trầm tích sông có tuổi Pleistocen muộn. Bề mặt thềm không được bằng phẳng, hơi nghiêng xuống phía thung lũng với góc 2-30 và là phần chuyển tiếp từ phần chân sườn thoải xuống thềm bậc I. Ranh giới chuyển tiếp giữa thềm II xuống thềm I thường là các vách khá rõ ràng. Trên bề mặt thềm II quá trình xâm thực chia cắt khá mạnh diễn ra vào mùa mưa. Đôi nơi trên bề mặt đồi thấp trong vùng còn sót cuội Thạch anh có độ chọn lọc và mài tròn tốt.  Nhân dân địa phương khai thác triệt để trồng các loại cây lương thực trên bề mặt thềm bậc II.

 

Thềm sông-lũ bậc III: Thềm bậc III là thềm cổ nhất trong khu vực nghiên cứu. Độ cao tương đối là 20-40 m. Sự thành tạo bề mặt tích tụ này liên quan với quá trình xâm thực bóc mòn mạnh vào Pleistocen giữa-muộn. Hiện tại bề mặt tích tụ này chịu tác động của quá trình  xâm thực rửa trôi bóc mòn mạnh. Chính quá trình  chia cắt về sau này đã tạo cho bề mặt thềm III có dạng đồi đỉnh bằng.

 

Bề mặt tích tụ sườn tích-lũ tích: Bề mặt này chiếm diện tích nhỏ, độ cao tương đối của bề mặt này thay đổi từ 5-30 m. Bề mặt này chính là các vạt gấu dưới chân núi. Thành phần trầm tích gồm tảng, dăm, cuội, sạn, cát hỗn tạp. Cuội tảng có độ mài tròn và chọn lọc kém. Hiện tại bề mặt đang được nhân dân sử dụng trồng cây công nghiệp như sắn, lạc v.v.

 

Bề mặt tích tụ sông-lũ tích: Bề mặt tích tụ sông-lũ tích nằm ven theo các suối chính trong khu vực nghiên cứu. Bề mặt này có chiều ngang hẹp từ 20-500 m, chiều dài từ 0,5-3 km. Độ cao tương đối của bề mặt này từ 2-10 m. Thành phần vật chất tạo nên bề mặt này là cuội, tảng, dăm, sạn, cát bột hỗn độn. Cuội có độ mài tròn và chọn lọc kém. Hình thái bề mặt khá bằng phẳng hơi nghiêng thoải lại phân bố gần dòng chảy hoặc giữa các trũng giữa núi do đó nhân dân đã cải tạo trồng lúa nước, canh tác kiểu bậc thang.

 

2.2. Nhóm bề mặt nguồn gốc bóc mòn xâm thực

Các bề mặt thuộc nhóm này chiếm diện tích chủ yếu của vùng nghiên cứu bao gồm các bề mặt san bằng và các bề mặt sườn.

 

Các bề mặt san bằng: Tổng hợp phân tích cụ thể trên toàn vùng có một bề mặt Pediment và 6 bề mặt san bằng. Đặc điểm chung của các bề mặt san bằng trong vùng nghiên cứu là mức độ bảo tồn kém, chỉ còn lại những mảnh địa hình tương đối bằng phẳng, lượn sóng với diện tích hẹp trên các đỉnh núi và vai núi với độ cao khác nhau và thấp dần từ phía tây sang phía đông. Sau đây là phần mô tả chi tiết từng bề mặt:

 

Bề mặt bóc mòn pediment cao 150-200 m: Bề mặt này phân bố ở phần chân núi ven theo các thung lũng sông Cả, suối Huổi co, suối Bình Thoong, suối Nậm Ngân với những diện tích rất hẹp tồn tại dưới dạng các đồi (hoặc dải núi thấp), đỉnh bằng, sườn lồi hoặc thẳng. Các bề mặt này có xu hướng nghiêng về phía thung lũng với góc nghiêng 1-30. Độ cao tuyệt đối của bề mặt này150-200 m. Quá trình thành tạo bề mặt này chủ yếu do hoạt động của các quá trình ngoại sinh như phong hóa, xâm thực và bóc mòn làm cho bề mặt địa hình ngày càng mềm mại hơn.

 

Bề mặt san bằng cao 300-500 m: Bề mặt này hiện nay chỉ còn gặp các mảnh sót nhỏ hẹp, rộng từ 100-500m có dạng kéo dài và hình thù đa dạng. Bề mặt này hình thành trên khá nhiều loại đá: cát kết, bột kết, phiến sét , đá vôi, đá phiến sét Serixit và trên đá xâm nhập Granit, Granodiorit .

Về hình thái bề mặt này tồn tại trên các đỉnh riêng biệt, bề mặt đỉnh tương đối bằng phẳng, trên đó thường tồn tại lớp vỏ phong hóa là bột sét, dăm sạn với chiều dày 0,5-1 m. Sự chuyển tiếp lên các bề mặt san bằng cao hơn bằng các sừon có độ dốc 20-300.

 

Bề mặt san bằng cao 600-800 m: Trong diện tích nghiên cứu di tích của các bề mặt này còn lại với các diện tích rất nhỏ tồn tại trên các đỉnh phân thuỷ thành các vòm núi nằm rải rác hầu hết khu vực, song mật độ của các bề mặt này cũng tăng dần từ Tây sang Đông. Bề mặt này có phương kéo dài theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, chiều rộng 200-300 m, chiều dài 500-1000 m. Bề mặt địa hình khá bằng phẳng đựơc phủ bởi trầm tích bở rời mỏng khoảng 0,5m. Bề mặt này chuyển tiếp lên bề mặt 1000-1400 m bằng các sườn có độ dốc 30-400.

 

Bề mặt san bằng cao 1000-1400 m: Bề mặt san bằng này chỉ bắt gặp ở phần đỉnh phân thủy của các núi như đỉnh Phu Xam Hoi 1366 m, Cao Vều 1342 m, Pù Loòng 1246 m, Phu Mon cao 1180 m, Phu Quoac cao 1140 m, Phu Pom cao1000 m, Phu Nam Pung cao1200 m, núi Hồi Cóc cao 1011 m, núi Sơn Lếch cao 1000 m, Phu Hương cao 1100 m. Các bề mặt này kéo dài dạng tuyến, chiều ngang hẹp 50-300 m, chiều dài 100-1000 m, cá biệt như  ở núi Phu Quoac chúng kéo dài liên tục tới 2000 m. Về hình thái bề mặt san bằng cao 1000-1400 m tương đối bằng phẳng, hơi nghiêng thoải, trên mặt thường phủ lớp vỏ phong hóa mỏng gồm bột sét lẫn dăm sạn.

 

Bề mặt san bằng cao 1500-1800 m: Bề mặt san bằng này phân bố ở các khối và dãy núi cao phía Tây khu vực nghiên cứu như Pù Mát 1875 m, Pù Huổi Ngoạ 1762 m,  Pù Thâm Khúp 1543 m, Pù Pan 1700 m, Pù Mo 1700 m, Pù Pung Mon 1575 m. Trên đỉnh Pù Thâm Khúp chúng kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam khoảng 1km, trên các đỉnh núi còn lại chúng có dạng kéo dài Đông Bắc –Tây Nam với chiều rộng thay đổi từ 200-500 m. Bề mặt san bằng này có địa hình khá bằng phẳng, được phủ lớp vật chất bở rời do quá trình phong hoá tại chỗ. Sự chuyển tiếp lên bề mặt san bằng cao hơn bằng các sườn dốc 35-450.

 

Bề mặt san bằng cao 2000-2700 m: Đây là bề mặt san bằng cao nhất và chiếm diện tích ít nhất trong khu vực nghiên cứu. Bề mặt này chỉ sót lại trên đường phân thủy của dải núi nằm sát biên giới Việt Lào như đỉnh Pù Xai Lai Leng 2711 m, Pù Hoạt 2452 m,  Pù Xong 2354 m, đỉnh Pù Mo 2194 m với diện tích bé, chiều dài 300 m, rộng 300-800 m và kéo dài theo phương á kinh tuyến. Bề mặt địa hình khá bằng phẳng do quá trình phong hóa và bóc mòn mạnh mẽ nên bề mặt lộ hoàn toàn đá gốc.

 

Các bề mặt sườn và vách:

Sườn kiến tạo do đứt gãy: Sườn này phát triển dọc theo các đứt gãy sông Cả, đứt gãy Xiểng Líp và một số đứt gãy khác có dạng kéo dài chủ yếu theo phương Tây Bắc-Đông Nam, riêng ở khu vực Bản Pụng chúng kéo dài theo phương đông bắc-tây nam với chiều rộng bé và kéo dài khoảng 1-2 km. Với đặc điểm hình thành do đứt gãy nên bề mặt sườn này không được bằng phẳng và có độ dốc trên 400, nhiều nơi tạo thành vách. Phần trên sườn thường dốc, dưới chân là các khối đổ lở và trượt hoặc tạo nên các vạt gấu sườn biểu thị quá trình bóc mòn xảy ra mạnh mẽ. Mức độ phân cắt sâu khá lớn trung bình 220-600 m/km2. Mạng lưới xâm thực ít phát triển. Hiện nay quá trình địa mạo như phong hóa, xâm thực và bóc mòn vẫn xảy ra trên bề mặt này làm cho địa hình ngày càng phức tạp hơn.

 

Sườn bóc mòn tổng hợp: Sườn bóc mòn tổng hợp chiếm diện tích lớn, phân bố kéo dài liên tục từ Bản Pụng tới xã Lưu Kiền và một ít diện tích ở khu vực bản Xiểng Nưa, bản Hào và bản Na Phúc. Sườn bóc mòn tổng hợp phát triển  rộng rãi trên các loại đá granodiorit, granit biotit  granit porphyr, granit granophyr. Về hình thái bề mặt sườn không được bằng phẳng, bị phân cắt bởi các rãnh xói, mương xói hiện đại, đôi nơi xuất hiện các vách đổ lở.Quá trình thành tạo sườn là sự tham gia đồng thời của các quá trình xâm thực, bóc mòn, rửa trôi và trọng lực trên cùng bề mặt sườn. Trên bề mặt sườn bóc mòn tổng hợp thung lũng xâm thực bóc mòn dạng chữ “V” phát triển mạnh mẽ hơn chữ “U”, các sản phẩm phong hóa được đưa xuống chân sườn tạo nên vạt gấu sườn tích. Mật độ phân cắt sâu, phân cắt ngang không đều biểu hiện mức độ hoạt động tân kiến tạo ở từng vùng có khác nhau. Phân cắt sâu từ 180-700 m/km2, phân cắt ngang 0,2-1,4 m/km2.

 

Sườn xâm thực: Bề mặt sườn xâm thực có dạng kéo dài  theo phương chủ yếu là Tây bắc - Đông nam với chiều dài 25-30 km, chiều rộng 6-8 km. Sườn xâm thực có đường chia nước răng cưa hẹp, bề mặt sườn không được bằng phẳng bởi sự phân cắt mạnh mẽ của các rãnh xói, mương xói hiện đại với mật dộ khá dày. Sườn có trắc diện lõm, độ dốc phổ biến là 30-350, càng lên cao độ dốc càng tăng. Các suối  ở đây phần lớn có dạng chữ “V” do quá trình xâm thực sâu phát triển mạnh đồng thời các sản phẩm phong hóa được đưa xuống chân sườn, phát triển  rộng rãi trong vùng. Mức độ phân cắt ngang 0,2 - 0,7 km/km2, phân cắt sâu 120-500 m/km2 trên bề mặt này không đồng đều.

 

Sườn xâm thực bị phá huỷ do bóc mòn: Kiểu sườn này chiếm diện tích lớn nhất (khoảng 3/4 diện tích) và bắt gặp ở hầu hết các khu vực trong diện tích nghiên cứu. Bề mặt này bao gồm các khối núi và các dãy núi có độ cao trung bình 800-1000 m, kéo dài hàng chục km chủ yếu theo phương á vĩ tuyến và Đông bắc-Tây nam. Chúng có đường chia nước thoải hẹp, uốn lượn khá phức tạp. Bề mặt sườn không được bằng phẳng lắm nhiều nơi bị các rãnh và mương xói chia cắt. Độ dốc của sườn trung bình 30-350. Lên cao độ dốc tăng tới 45-50˚. Sườn có trắc diện lồi. Bề mặt sườn phần lớn phát triển trên đá lục nguyên là loại đá dễ phong hóa. Các quá trình bóc mòn, xâm thực diễn ra mạnh mẽ và liên tục làm thấp dần địa hình bề mặt này. Các sản phẩm phong hóa được đưa xuống chân sườn tạo nên lớp sườn tích dày 1-3 m.

 

Mạng lưới sông suối phát triển trên bề mặt này có dạng cành cây. Thung lũng xâm thực dạng chữ “U” phát triển mạnh mẽ hơn so với thung lũng xâm thực dạng chữ “V”. Mức độ phân cắt xâm thực trên bề mặt này khá mạnh mẽ nhưng không đồng đều ở các vùng, phân cắt ngang 0,2-1,8 km/km2, phân cắt sâu 120-800 m/km2. Bề mặt này được sử dụng cho nông nghiệp, lâm nghiệp trong quá trình canh tác cần có biện pháp chống xói mòn.

 

Sườn đổ lở : Sườn được phân bố  ở nơi có địa hình núi cao dọc biên giới Việt Lào, kéo dài qua các núi Pù Samtie, Pù Tong Chinh, Pù Xoong, Pù Xai Lai Leng, Pù Nam Pung khoảng 35-40km theo hướng Tây bắc - Đông nam và một dải từ núi Sơn Lếch đến núi Mai. Đặc điểm của sườn ở đây là có độ dốc khá lớn, dốc > 400 có khi lên tới 50-700 và hiện còn quan sát thấy khá nhiều vách dốc đứng. Do ảnh hưởng của trọng lực dưới chân các dãy núi này quan sát thấy những vạt gấu đá, những tảng lăn nằm ngổn ngang và chồng chất lên nhau. Kích thước của các tảng lăn có khi lên tới 5-7 m về chiều dài và 4-5 m về chiều rộng. Các tảng lăn trên cao cũng nhanh chóng được đưa xuống lấp đầy các thung lũng xâm thực bên dưới. Mức độ phân cắt sâu 320-760 m/km2, phân cắt ngang 0-1 km/km2 .

 

Sườn rửa trôi bề mặt: Sườn rửa trôi bề mặt chiếm diện tích nhỏ phát triển ở vùng đồi thấp, thoải. Trên diện tích nghiên cứu chúng tạo thành một dải kéo dài theo hướng Tây bắc-Đông nam và tập trung ở phần gần đáy các thung lũng Sông Cả, Khe Quyền, Huổi Co. Trên các diện tích này, mạng sông suối khe rãnh kém phát triển, lớp phủ thực vật rất kém hoặc trơ trụi. Đặc điểm địa hình là núi thấp, đồi dạng bát úp không thể hiện rõ đường chia nước, đỉnh khá bằng, bề mặt sườn phẳng và thoải với độ dốc 8-200. Sườn hình thành do nước chảy tràn trên bề mặt, rửa trôi các sản phẩm phong hóa lôi kéo đọng ở chân sườn. Mạng lưới sông suối trên bề mặt này phát triển thưa. Mức độ phân cắt ngang 0,2-1,5 km/km2, phân cắt sâu 100-320 m/km2. Các thung lũng xâm thực ít phát triển. Bề mặt sườn rửa trôi bề mặt đang được sử dụng trồng các loại cây công nghiệp, nông nghiệp theo kiểu canh tác bậc thang.

 

Sườn và vách karst bóc mòn: Loại sườn này phát triển trên đá vôi, sét vôi xen cát kết, bột kết, do quá trình rửa lũa hòa tan không triệt để, địa hình sườn có dạng lởm chởm, gồ ghề, độ dốc sườn thường 40-450. Đỉnh thường có dạng mũi giáo, chân sườn tích tụ các tảng đá vôi hỗn độn trong lớp tích tụ bột sét là sản phẩm còn lại khi rửa lũa đá vôi không thuần khiết, một vài nơi ở phần gần đỉnh quan sát thấy các vách dựng đứng. Mật độ phân cắt sâu lớn: 100-840 m/km2, phân cắt ngang trung bình 0,8-1,5 kmkm2.

 

Sườn và vách karst xâm thực: Sườn được phát triển trên đá vôi, đây là loại đá vôi khá tinh khiết do vậy quá trình rửa lũa hòa tan dưới tác dụng của dòng nước xảy ra mãnh liệt theo các khe nứt thẳng đứng hoặc xiên đã tạo nên các vách đá vôi dốc dựng đứng và các sườn dốc > 400 có nơi dốc 60-700, với đặc trưng dạng địa hình là đá tai mèo, đường đỉnh dạng răng cưa, các đỉnh thường có dạng chóp. Các trũng karst xuất hiện ở đây có dạng đẳng thước, đáy phẳng không gặp tích tụ dạng deluvi, dưới chân sườn gặp nhiều tầng sụp đổ. Kết hợp với sự họat động của dòng ngầm dã tạo nên các hang ngầm, phễu karst. Mật độ phân cắt sâu 200-630 m/km2, phân cắt ngang trung bình 0,8-1,5 m/km2. Trên bề mặt sườn và vách thảm thực vật phát triển phong phú.

 

3. Các dạng địa hình ngoài tỷ lệ

3.1 Các dạng do kiến tạo và kiến trúc bóc mòn: Hoạt động kiến tạo, đặc biệt là tân kiến tạo có tác dụng quyết định việc hình thành địa hình hiện tại. Các dấu ấn của hoạt động này đến nay còn quan sát được như các vách kiến tạo phát triển dọc theo các đứt gãy lớn gặp ở khu vực xã Tam Thái, dọc suối Bành Thoong( Xiểng Líp), Nậm Ngân( xã Nga My), Nậm Có( xã Bình Chuẩn), Nậm Típ( xã Mường Típ).  Các vùng nâng địa phương biểu hiện ở chỗ các lưới các dạng sông suối có dạng tỏa tia như ở Pù Non, Pù To, Pù Huống. Các vùng hạ địa phương biểu hiện  ở chỗ các dòng chảy qui tâm hoặc các dòng chảy bị uốn khúc mạnh. Biểu hiện của dạng kiến trúc bóc mòn là các sống núi lộ đá cũng gặp ở trên các đỉnh núi granit và dá vôi hình thành do lớp phủ trên những kiến trúc này bị bóc đi làm lộ trơ kiến trúc đá  ở bên dưới.

 

 3.2.Các dạng dòng chảy: Tác động của các dòng chảy thường xuyên và dòng chảy tạm thời đã tạo nên các dạng địa hình khác nhau. Hoạt động của dòng chảy mang vật liệu do quá trình bóc mòn xuống đọng lại ở chân núi, tạo ra các nón phóng vật. Ở những vùng địa hình thấp, thung lũng sông suối có đáy rộng hơn, mặt cắt ngang có dang chữ “U” hoặc chữ “V” mở rộng. Hoạt động xâm thực ngang bắt đầu chiếm ưu thế và cắt vào các bờ đá gốc tạo thành vách cao 1-5m. Ở những nơi dòng chảy chảy qua các bậc thềm thường quan sát được các vách dựng đứng làm lộ  tầng vật chất bở rời của thềm tích tụ.

 

3.3.Các dạng trọng lực: Các dạng trọng lực hình thành do các khối vật chất đã bị mất lực dính kết với khối đá gốc. Tiêu biểu là các vách đổ lở quan sát được trên sườn của đỉnh Pù Sum Tie, nơi có địa hình núi cao và dốc thuộc sườn trọng lực. Dưới chân của vách đổ lở này là địa hình tích tụ đá lở gồm các tảng đá hình thành do sự đổ lở được tích tụ lại.

 

3.4.Các dạng karst và xói ngầm: Các dạng karst và xói ngầm hình thành do quá trình rửa lũa hòa tan của nước trên mặt và nước ngầm đối với đá vôi, một loại đá có nhiều vết nứt, lỗ hổng. Khi nước mưa và nước ngầm tác động, sườn thường tạo thành dạng hàm ếch do bị ăn mòn, sau đó chúng sụp đổ xuống dưới tác dụng của trọng lực tạo thành các vách dốc dựng đứng, mặt vách khá bằng phẳng. Địa hình Carư phát triển ở hầu hết các dải đá vôi trong khu vực. Chúng gồm những luống đá sắc nhọn hoặc dạng mũi giáo xen lẫn những rãnh sâu có kích thước từ vài cm đến vài m. Được hình thành do quá trình hòa tan, ăn mòn và xói mòn đá cacbonat, phần lớn theo các khe nứt có sẵn trong đá.

 

Khu vực nghiên cứu có mạng lưới đứt gãy khá phát triển do đó đá vôi bị chà sát mạnh tạo điều kiện cho hoạt động rửa lũa đá vôi của nước trên mặt và nước theo dòng diễn ra mạnh mẽ theo các khe nứt. Kết quả của quá trình đó đã tạo nên các hạng động mà quan sát thấy như ở bản Lưu Tiếp và hang ở bắc Bình chuẩn. Quá trình bóc mòn làm lộ đá vôi dưới dạng các núi sót hình nón, hình thang. Dạng địa hình này quan sát thấy như ở xã Mường Típ và ở núi Hồi Cóc.

 

3.5.Các dạng nhân sinh: Các dạng địa hình nhân sinh tạo nên do hoạt động của con người vào các lĩnh vực kinh tế khác nhau. Biểu hiện rõ nét dạng địa hình này là các hồ nhân tạo, đập chắn nước, ruộng bậc thang. Dạng địa hình này gặp nhiều nhất ở những khu vực tập trung dân cư trong vùng.

 

4. Tuổi và lịch sử phát triển địa hình

 

4.1. Tuổi địa hình: Vùng nghiên cứu được chia ra  6 bề mặt địa hình nguồn gốc tích tụ, 6 bề mặt san bằng và 7 bề mặt sườn. Việc xác định tuổi địa hình là nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu địa mạo để lập lại lịch sử phát triển địa hình khu vực. Tuổi của bề mặt tích tụ được xác định dựa vào tuổi của trầm tích tạo nên chúng, nên tuổi của địa hình là tuổi của trầm tích. Đối với địa hình bóc mòn xâm thực là các bề mặt san bằng, việc xác định tuổi có khó khăn phải dựa vào trầm tích so sánh nhưng chỉ mang tính chất tương đối.

 

Việc xác định tuổi các bề mặt san bằng được dựa vào kết quả nghiên cứu các trầm tích Neogen. Trầm tích Neogen vùng Cửa Rào, Khe Bố có mặt cắt đặc trưng quan sát được ở mỏ than Khe Bố và được bổ xung ở Cửa rào, Khe Chỉ gồm 5 tập có chứa phức hệ thực vật định tuổi. Ba tập dưới có tuổi Mioxen muộn và 2 tập trên có tuổi Pliocen sớm. Trầm tích Miocen ở đây liên quan với nguồn cung cấp vật liệu vì thành phần thạch học giống như trầm tích hiện có trên các bề mặt san bằng 600-800 m và 1000-1400 m trong vùng. Các tầng cuội, sạn, sỏi, cát có độ mài tròn kém, đôi nơi lẫn dăm sạn. Chứng tỏ vật liệu được đưa từ các bề mặt san bằng kế cận xuống tích tụ ở trũng địa hào Khe Bố.

 

Từ các kết quả trên cho thấy bề mặt san bằng 600-800 m và 1000-1400 m ứng với tuổi trầm tích Khe Bố do đó bề mặt san bằng 600-800 m tuổi Pliocen sớm( N21 ) và bề mặt san bằng 1000-1400 m tuổi Miocen muộn( N23 ). Tuổi bề mặt san bằng 300-500 m được chứng minh là các phun trào bazan tuổi Neogen-Đệ tứ phủ tràn trên bề mặt san bằng này chúng nằm tiếp giáp phía Bắc của vùng nghiên cứu, nên tuổi bề mặt san bằng này là Pliocen muộn(N22). Các bề mặt Pediment cao 100-200 m. Bề mặt này tại phía nam vùng nghiên cứu thuộc nhóm tờ Hoành Sơn đã phát hiện nhiều nơi có tectit nguyên dạng găm trên bề mặt phong hóa của chúng, nên tuổi của bề mặt pediment là Pleistoxen sớm(Q1).

 

Theo quy luật tự nhiên bề mặt càng cao thì tuổi càng cổ nên bề mặt san bằng 1500-1800 m tuổi Miocen giữa (N12) và bề mặt san bằng 2000-2700 m có tuổi Miocen sớm (N11). Tuổi của các bề mặt tích tụ trong thực tế là tuổi của đất đá tạo nên tích tụ đó. Bề mặt thềm sông lũ bậc III cao 20-40 m, bề mặt này nghiêng thoải từ Tây bắc xuống Đông nam và được cấu tạo bởi trầm tích sông lũ tuổi Pleistoxen giữa-muộn phần sớm nên tuổi của thềm III là Pleistoxen giữa-muộn phần sớm (QII-III1). Thềm sông bậc II cao 4-6m được cấu tạo từ trầm tích sông tuổi Pleistoxen muộn phần muộn do vậy bề mặt có tuổi Pleistoxen muộn (QIII2). Thềm sông bậc I được cấu tạo từ trầm tích sông tuổi Holoxen sớm-giữa do vậy tuổi bề mặt tích tụ thềm bậc I được xác định là Holoxen sớm-giữa (QIV1-2). Bề mặt bãi bồi được cấu tạo từ trầm tích sông tuổi Holoxen muộn, là trầm tích hiện đại nhất do đó tuổi của bề mặt là Holoxen muộn(QIV3). Các bề mặt tích tụ hỗn hợp sông-lũ, sườn-lũ tích có tuổi Đệ Tứ không phân chia (Q).

 

4.2. Lịch sử phát triển địa hình

Lịch sử phát triển địa hình bề mặt trái đất nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng liên quan chặt chẽ với các chuyển động tân kiến tạo. Vận động tân kién tạo là những vận động của vỏ trái đất xảy ra vào các thời kỳ Neogen-Đệ Tứ và có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành những nét căn bản của địa hình hiện đại.  Bởi vậy lịch sử phát triển địa hình không thể tách rời được với chuyển động tân kiến tạo. Có thể chia ra một số giai đọan sau:

 

Vào đầu Miocen sớm (cách ngày nay 23-25 triệu năm) vùng nghiên cứu vẫn tiếp tục thời kỳ bình ổn kiến tạo từ cuối Paleogen để hình thành nên bề mặt san bằng cổ nhất với độ cao 2000-2400 m. Bề mặt này hiện tại còn giữ lại được ở những đường phân thủy của các dãy núi cao nhất vùng nằm  ở phía nam thượng nguồn sông Cả.

 

Sau thời gian yên tĩnh đó vùng tây Nghệ An bắt đầu hoạt động trở lại. Các chuyển động khối tảng đã dẫn đến việc hình thành rõ nét các đới địa hình núi cao và trung bình, đới núi thấp, đồi và đồng bằng. Thời kỳ này tại vùng trũng địa hào sông Cả đã xuất hiện quá trình tích tụ gần bờ sụt lún tạo ra các tầng tích tụ hạt thô. Kết quả là bề mặt san bằng 2000-2700 m bị phá hủy. Khả năng xâm thực bóc mòn lúc này xảy ra mạnh mẽ. Các dòng chảy chia cắt dữ dội đưa vật liệu thô xuống trũng địa hào. Sự nâng lên với vận tốc đột biến bởi vì vật liệu được nhanh chóng đưa xuống vùng trũng bên cạnh còn nguyên vẹn những dăm kết dạng khối sắc cạnh, những cuội sạn có độ mài tròn kém. Trong suốt thời kỳ từ Miocen giữa đến Pliocen muộn cứ ứng với một thời kỳ nâng lên là một thời kỳ yếu đi của chuyển động tân kiến tạo để hình thành nên các bề mặt san bằng mức 1500-1800 m, 1000-1400 m, 600-800 m, 300-500 m có tuổi tương ứng là Miocen giữa(N12), Miocen muộn(N13), Pliocen sớm(N21), Pliocen muộn(N22).

 

Vào cuối Pliocen muộn-đầu Pleistocen sớm (cách ngày nay 2,5 - 3  triệu năm), bề mặt san bằng 300-500 m bị san bằng mạnh mẽ. Trong khi ở miền núi bề mặt đó bị nâng cao đến mức 300 –

500 m thì ở vùng đồng bằng kế cận, bề mặt này bị nhấn chìm xuống làm thành mặt đáy đồng bằng mà về sau bị các trầm tích cuội sỏi phủ lên.

 

Đầu Pleistocen sớm (cách ngày nay 1,8 triệu năm), địa hình vùng núi chịu hoạt động nâng cao, quá trình bóc mòn xâm thực là chủ yếu. Các núi tiếp tục phát triển và không ngừng lớn lên lấn át cả những vùng trũng và thung lũng lớn. Dọc vùng trũng địa hào sông Lam cũng bị nâng lên tương đối và xảy ra hiện tượng bóc mòn. Các trầm tích Neogen ở đây bị biến dạng mạnh và bị bóc mòn mạnh, hiện chỉ còn giữ lại được những mảnh sót kéo dài dọc thung lũng sông Lam . Cuối pha là thời kỳ yên tĩnh, địa hình phát triển theo kiểu Pediment hóa tạo ra các bề mặt bóc mòn cao 100-200 m ở dọc thung lũng sông Lam và ở các khu vực khác với tuổi Pleistocen sớm(QI)

 

Cuối Pleistocen giữa-đầu Pleistocen muộn (cách ngày nay 125 000 năm) tiếp tục xảy ra quá trình nâng lên ở vùng núi và thu hẹp các miền trũng. Các khu vực như Pù Miêng-Pù Xai và Pù Thăm Pha, Pù Pan... nâng lên mãnh liệt. Rải rác khắp khu vực phát triển các khe hẻm có vách dốc dựng đứng, độ phân cắt sâu lớn. Các khối như Pù Hot, Pù Huống nâng dạng vòm đã tạo ra những mạng lưới sông suối dạng tỏa tia, hiện còn thấy rõ nét trên địa hình. Kết thúc thời kỳ này cơ sở xâm thực đã lùi ra xa ở khu vực Xiểng Líp hình thành bậc thềm III.

Cuối Pleistocen muộn (cách ngày nay 15 000 năm), hoạt động nâng lại xảy ra tạo nên thềm bậc II. Ở sườn núi lại tiếp tục quá trình phong hóa, xâm thực bào mòn.

Vào Holocen sớm-giữa (cách ngày nay 4000-6000 năm) xảy ra hoạt động nâng yếu hình thành thềm sông bậc I.

 

Đầu Holocen muộn (3000 năm) quá trình tích tụ hình thành bãi bồi hiện đại với những diện tích nhỏ hẹp nằm ven dòng sông suối.

 







Bản quyền Vườn quốc gia Pù Mát
Địa chỉ: Xã Chi Khê, Huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An
Điện thoại/Fax: 038.3873374   Email: vqgpm@hn.vnn.vn
Website sử dụng giải pháp YoMedia Portal