Đăng Nhập

 Đặc điểm địa chất

 

Vùng nghiên cứu  chủ yếu ở vùng núi đặc điểm của đất bao gồm các nhóm đất sau:

 

Đất Feralit đỏ vàng vùng đồi (dưới 200 m).

 

Đất feralit đỏ vàng trên núi thấp  (từ 200-1000 m).

 

Đất mùn vàng trên núi trung bình (1000-2000 m).

 

Đất mùn trên núi cao ( > 2000 m)

  

 

Dựa theo tính chất, đặc điểm của đất chia ra một số loại đất chính trong vùng nghiên cứu như sau:

 

 

 

1. Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét: Phân bố trên một phạm vi rộng khắp các huyện, tập trung nhiều ở Tương Dương, Con Cuông, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp. Đất đỏ vàng trên phiến sét có hầu hết ở các loại địa hình nhưng tập trung ở vùng núi thấp, độ dốc lớn, tầng đất khá dày; ở các vùng thấp đất đỏ vàng trên phiến sét gặp nhiều trên các đồi đất, tầng đất mỏng hoặc trung bình. Đất đỏ vàng trên phiến sét ở vùng có thảm thực vật cây bụi là loại đất có độ phì khá, độ mùn từ 2 - 4%, đạm từ 0,1 ÷ 0,25%, lân từ 0,006 ÷ 0,07%, kali từ 1 ÷ 2%, độ chua cao, pHKCL < 4, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét nhẹ, độ dày tầng đất phần nhiều trên 50 cm; ở trên các vùng có thảm thực vật là cỏ và đất hoang hoá (do bị xói mòn mạnh) tầng đất thường mỏng từ 30 ÷ 50 cm.

 

 

 

2. Đất vàng nhạt phát triển trên sa thạch và cuội kết:  Phân bố rải rác theo dải hẹp xen giữa các dải đất phiến thạch kéo dài theo hướng Tây bắc – Đông nam của tỉnh qua nhiều huyện miền núi và trung du như Thanh Chương, Anh Sơn, Tân Kỳ, Tương Dương, Kỳ Sơn,… Do thành phần cơ giới tương đối nhẹ hơn so với đất phiến thạch sét nên đất vàng nhạt trên sa thạch thường bị xói mòn mạnh, tầng đất tương đối mỏng và nhiều nơi trơ sỏi đá. Chỉ có một số nơi địa hình núi cao, thảm thực vật che phủ khá mới có độ dày tầng đất từ 50 ÷ 70 cm. Đất vàng nhạt trên sa thạch thường nghèo dinh dưỡng, ở các vùng núi cao lượng mùn từ 1,5 ÷ 2,5%; ở vùng thấp lượng mùn thường không quá 1,5%. Các chỉ tiêu như đạm, lân, kali điều nghèo, độ chua cao pHKCL < 4, độ bazơ thấp, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến cát pha, hạt rời rạc, khả năng giữ nước và kết dính kém, thành phần keo sét thấp, khả năng giữ màu kém.

 

 

 

3. Đất vàng đỏ phát triển trên các đá axit: Phân bố rải rác ở các huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Châu,… Phần lớn đất vàng đỏ trên đá axit có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dinh dưỡng, bị xói mòn rửa trôi mạnh, độ chua lớn (pHKCL < 4), ít có nghĩa trong sử dụng sản xuất nông nghiệp.

 

 

 

4. Đất đỏ nâu trên đá vôi: Phân bố rải rác ở các huyện: Tân Kỳ, Nam Đàn, Quỳ Hợp,… Ngược lại với các loại đất khác, đất đỏ nâu trên đá vôi ở các vùng địa hình thấp thường có tầng dày hơn; ở vùng núi cao đất đá vôi bị phong hoá và rửa trôi mạnh nên tầng đất mỏng hơn. Tuy nhiên, phần lớn đất đá vôi có độ dày tầng đất khá thường trên 50 cm, độ phì ở đất đá vôi khá, mùn từ 2 ÷ 4%; đạm trên 0,15%, đất chua pH < 4, độ no bazơ nhỏ dưới 50%.

 

 

 

5. Đất Feralit đỏ vàng trên núi, đất mùn trên núi cao:

 

Đất Feralit vùng đồi: Tập trung ở Thanh Chương và Anh Sơn, phần lớn là đồi trọc, hoặc có cây bụi do rừng bị tàn phá. Do đất bị rửa trôi, xói mòn nhiều nên ít mùn (<2%), độ chua cao (pH = 4 ÷ 4,5), có hiện tượng đá ong hoá mạnh.

 

 

 

Đất Feralit vùng núi thấp có thảm thực vật che phủ tương đối cao. Do sườn núi dốc mạnh, nước ngầm không đọng lại trong đất, dòng nước ngầm chảy mạnh, nên các dạng kết vón và tầng đá ong không phát triển được. Hàm lượng mùn 2 ÷ 4%; đạm tổng số 0,1 ÷ 0,25%; lân tổng số 0,06 ÷ 0,07%; kali tổng số 1 ÷ 2%; độ chua thuỷ phân 6,61đl ÷ 15đl/100g đất, tổng số cation trao đổi 91đl ÷ 14đl/100g đất, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét nhẹ, độ dày tầng đất phổ biến trên 50 cm, ở các nơi đồi trọc, đất hoang hoá, tầng đất mỏng hơn (30 cm –50 cm).

 

 

 

Đất Feralit trên núi cao do khí hậu mang tính á nhiệt đới, độ ẩm tăng do mưa nhiều, rừng bị tàn phá, thực vật còn nhiều, trong đó số lượng cây rụng lá tăng lên nên hàm lượng mùn cao (5 - 8%).

 

Đất Feralit mùn trên núi cao: có ở độ cao từ 1800 m trở lên, khí hậu mang tính á ôn đới rõ rệt, có thời gian nhiệt độ hỗn giao giữa chất hữu cơ được phân dải rất chậm nên lượng mùn cao (8 - 12%). Đất xốp, giữ nước mạnh, kết cấu tốt.

 

 

 

6. Đất phù sa: Phân bố rải rác ở các sông như: sông Cả, sông Giăng, sông Con. Đất hàng năm bị ngập do lụt, lượng phù sa lớn, độ phì cao. Đây là vùng đất có ý nghĩa trong sản xuất nông nghiệp, chuyên trồng các loại cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày. Các chỉ tiêu về nông hoá thổ nhưỡng đất núi Nghệ An được thể hiện ở bảng dưới đây:

 

                

 

Bảng 14: Một số chỉ tiêu nông hoá thổ nhưỡng đất vùng núi Nghệ An

 

 

Địa phương

Tầng canh tác (cm)

Thành phần cơ giới

Chỉ tiêu dinh dưỡng

Mùn (%)

Đạm tổng số %

Đạm dễ tiêu mg/200g đất

Lân tổng số %

Lân dễ tiêu mg/100g đất

Độ chua thuỷ phân

Tổng cation trao đổi

Anh Sơn

35

Thịt nhẹ

0,62

0,1

Vệt

0,053

Vệt

5

9

Con Cuông

35

NT

0,65

0,12

Vệt

0,08

Vệt

5,5

8,5

Kỳ Sơn

15

Lẫn đá

0,98

0,2

Vệt

0,073

Vệt

8,5

17,5

 

(Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của  tỉnh Nghệ An)

 

 

 

Từ kết quả bảng trên ta có thể thấy rằng: Đất vùng núi Nghệ An nghèo mùn (trên 900 m hàm lượng mùn cao). Đạm tổng số ở mức trung bình. Lân dễ tiêu thường thấp, lân tổng số ở mức trung bình hoặc giàu. Vùng đồi núi trọc và phù sa nghèo lân dễ tiêu. Tổng số cation trao đổi thường thấp. Với đặc điểm trên phải cơ cấu cây trồng và chế độ canh tác hợp lý và tận dụng phân hữu cơ để làm tăng độ phì của đất.


 







Bản quyền Vườn quốc gia Pù Mát
Địa chỉ: Xã Chi Khê, Huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An
Điện thoại/Fax: 038.3873374   Email: vqgpm@hn.vnn.vn
Website sử dụng giải pháp YoMedia Portal