Đăng Nhập

 Khu vực Pù Hoạt

 

. Loại hình nơi cư trú/đất thứ nhất: (đặc điểm sinh học): Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi cao hỗn giao cây lá rộng với cây lá kim

 

 

 

 

1.1. Loài đặc trưng: Thực vật chiếm ưu thế là cây lá rộng, cây lá kim có một số loài tầm vóc to lớn nhưng mật độ và sinh khối không vượt quá 30%. Các họ thực vật ưu thế là : Lauraceae, Fagaceae, Theaceaea, Araliaceae, Aceraceae, Rosaceae, orchidaceae; các họ hạt trần: Cupressaceae, Taxodiaceae, Podocarpaceae; với các loài điển hình như Re (Cinnamomum liangi, C. iners, C.cambodianum, C. litseafolium ), Chắp (Beilschmiedia), Bời lời (Litsea mollis, L. atrata, L. garretii), Kháo (Machilus decursirvus), Cà ổi (Castanopsis platycalyx), Dẻ đá quả gỗ (Lithocarpus cornea, L. coatilus), Dẻ lá tre (Quercus bambusaefolia), Dẻ helphe (Quercus halpheriana), Chè khấu (Adinandra hainanensis), Súm (Euryea japonica), Chò sót (Schima wallichii), Cù đèn (Croton maieuticus), Trám trẩu (Mitilaria laosensis), Chắp (Symingtonia tonkinensis), Mậy châu (Carya tonkinensis), Giổi (Tsoongiodendron odorum), Tì bà (Eriobotrya cavalieri), Cổ phông (Photinia arguta), Tô hạp (Altingia excelsa), Sến mật (Madhuca),... Đặc biệt cây lá kim thực vật hạt trần tham gia trong tổ thành có các loài : Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông lông gà (Podocarpus imbricatus), Kim giao (Nageia fleuryii), Thông tre (Pdocarpus neriifolius), Bách xanh (Calocedrus macrolepsis), và Sa mu (Cunninghamia konishii). Rừng chia thành 3 tầng, tầng ưu thế  sinh thái tạo thành tán rừng với các loài cây lá rộng kể trên và cá loài lá kim: Kim giao (Nageia fleuryi) và Thông lông gà (Dacrycarpus imbricatus).

 

 

 

 

 

1.2. Những quá trình tự nhiên quan trọng: Về mặt khoa học, là một trong rất ít khu vực của đất nước còn giữ được một mẫu rừng vùng đỉnh núi với nhiều loài đặc hữu và đặc biệt là sự tồn tại của các loài cây lá kim (hạt trần) cổ như: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Bách xanh (Calocedrus macrolepsis), Sa mu (Cunninghamia konishii), các loài này tuy số lượng và sinh khối trên toàn rừng không lớn nhưng là những cây có tầm vóc lớn cả về chiều cao và đường kính mà không có loài nào cây nào ở trong nước có thể sánh nổi. Nếu so sánh với 8 cây đã được P.W. Richards giới thiệu trong “Rừng mưa nhiệt đới” như Cự tùng (Sewuoia sempevriens) H = 102, D = 8; Bạch đàn vua ở Úc (Eucalyptus regnans) H = 97; Bạch quả ở Trung Quốc (Gingko biloba) chu vi 16vm; cây Com pat ở Sarawark (Koompasia exelsa)... thì những cây Sa mu của Pù Hoạt có thể đứng vào hàng thứ 8 hoặc thứ 9 trong số các cây có tầm vóc lớn nhất thế giới. Do đó những quần thể các loài lá kim trong kiểu rừng này của Pù Hoạt là một trong số các mẫu ít ỏi của trái đất còn tồn tại và tạo nên những cảnh ngoạn mục trên vùng đỉnh núi cao luôn luôn có mây che phủ.

 

 

 

 

1.3. Những tác động chính của con người: Trong kiểu rừng này, có nhiều loài quí hiếm và đặc hữu, rừng gần như còn nguyên vẹn, sự tác động của con người chỉ hạn chế ở các hoạt động săn bắn (chủ yếu do người H’Mông ở bản Sài).

 

 

 

 

1.4. Hoạt động quản lý liên quan: Vùng này chịu sự quản lý và bảo vệ trực tiếp của bộ phận Kiểm lâm, Ban quản lý Khu BTTN Pù Hoạt và Uỷ Ban Nhân dân xã, huyện có rừng. Vùng lõi này đã được xác định rõ về địa giới hành chính, cũng như là chức năng của nó. Cần có một chính sách thích hợp để cải thiện điều kiện sống cũng như nâng cao nhận thức của người dân về hệ sinh thái bởi vì các hoạt động của con người dù vô tình hay hữu ý đều có những ảnh hưởng nhất định tới rừng.

 

 

 

 

 

2. Loại hình nơi cư trú/đất thứ hai: Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi trung bình

 

 

 

 

2.1. Loài đặc trưng: Thực vật chiếm ưu thế là cây lá rộng, sinh trưởng tốt, cây lá kim có Thông nàng, Kim giao (Nageia fleuryi) rải rác đôi chỗ trên các sườn giông và rất dốc. Cây lá rộng với các loài tiêu biểu của các Họ sau: Họ Dẻ (Fagaceae) có khá nhiều loài và cũng chiếm ưu thế trong một số tổ thành đai diện của Họ Dẻ như: Cà ổi (Castanopsis seracantha, C. ferox, c. indica), Dẻ đá (Lithocarpus dussaudi), Sồi (L. trachycarpa), Dẻ cau (Quercus fleuryi); Họ Re (Lauraceae) có 30 loài của các chi, trong đó chi phân bố rộng; Họ Dầu (Dipterocarpaceae) tuy ít loài nhưng ở nhiều lâm phần ở Thông thụ  và Phu Pha Nhà đã chiếm ưu thế tuyệt đối tới trên 50% trong tổ thành. Họ Mộc lan (Magnoliaceae) với nhiều cây gỗ lớn của các chi Giổi (Michelia, Mangkietia, Tsoongiodendion); Họ Hồng xiêm (Sapotaceae) với nhiều loài cây gỗ nổi tiếng Sến Mật (Madhuca pasquiera) với đường kính trên 60 – 80 cm cũng đôi khi chiếm 3 – 5% trong tổ thành. Ở kiểu rừng này cá Họ sau xuất hiện và đóng vai trò quan trọng là Họ Xoan (Meliaceae) với các loài Gội (Aglaia); Họ Bồ hòn (Sapindaceae) với các loài Sâng (Pometia), Trường (Amesiodendron chinensis); Họ Thị (Ebenaceae) có 6 – 7 loài của chi Diospyros. Kiểu rừng này phần lớn cũng là rừng ít bị tác động, tính nguyên sinh cao và có nhiều động vật quí hiếm sinh sống như: Voi (Elephas maximus), Bò tót (Bos gaurus), Hươu nai (Cervidae), Gấu (Urcidae), Hoẵng (Muntiacus muntjak)

 

 

 

 

 

2.2. Những quá trình tự nhiên quan trọng: Phân bố ở độ cao 800 – 1500 m, phân bố rộng khắp vùng sườn núi từ các tiểu khu giáp Thanh Hóa, sông Chu cho tới sườn Pù Pha Nhà, Pù Cao Mạ, Pù Pha Lâng và phía Đông núi Pù Hoạt. Rừng phát triển trên đất feralit màu vàng, đá mẹ chủ yếu là riolit và granit, phong hóa mạnh, tầng đất dày đến trung bình, độ sói mòn, độ tán che 0,8. Kiểu rừng này còn giữ được tính nguyên sinh cơ bản, đôi chỗ bị làm nương rẫy với từng đám nhỏ.

 

 

 

 

2.3. Những tác động chính của con người: Con người ít có những tác động gây tổn hại đến kiểu rừng này.

 

 

 

 

2.4. Hoạt động quản lý liên quan: Vùng này chịu sự quản lý và bảo vệ trực tiếp của bộ phận Kiểm lâm, Ban quản lý Khu BTTN Pù Hoạt và Uỷ ban Nhân dân xã, huyện có rừng. Vùng lõi này đã được xác định rõ về địa giới hành chính, cũng như là chức năng của nó. Cần có một chính sách thích hợp để cải thiện điều kiện sống cũng như nâng cao nhận thức của người dân.

 

 

 

 

 

3. Loại hình nơi cư trú/đất thứ ba: Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp

 

3.1. Loài đặc trưng: Thảm thực vật không đồng đều với nhiều họ và nhiều đại diện ưa sáng của các Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), Sim (Myrtaceae), Xoan (Meliaceae), Dâu tằm (Moraceae), Cánh bướm (Papilionoceae), Vang (Caesalpiniaceae), Thị (ebenaceae), Re (Lauraceae), Dẻ (Fagaceae), Côm (Elaeocarpaceae). Rừng chia 3 tầng, tầng ưu thế sinh thái tạo thành tán rừng với các loài điển hình: Chẹo (Engelhrdtia), Bứa (Garcinia), Vạng (Endospermum), Lim xẹt (Peltophorum), Mọ (Deutzianthus), Muồng (Adenanthera), Đa (Ficus), Mãi táp (Randia), Ngát (Gironiera), Côm (Elaeocarpus. sp), Bời lời (Lystea bavesnis), Chắp (Beilschmiedia).

 

 

 

 

 

3.2. Những quá trình tự nhiên quan trọng: Phân bố ở độ cao dưới 800 m, trên đất feralit đỏ vàng phát triển trên granit, sa phiến thạch, tầng đất mỏng đã bị rửa trôi mạnh ở một số lớn diện tích, do có những giai đoạn mà thảm che bị phá vỡ do đốt nương rẫy.

 

 

 

 

3.3. Những tác động chính của con người: Nhìn chung so với nhiều khu rừng khai thác tại Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn thì tầng đất của kiểu rừng này chưa bị rửa trôi trầm trọng, tình hình tái sinh tốt với nhiều loài cây giá trị. Số lượng cây tái sinh đạt 10 000 cây/ha, số cây có cấp H trên 3m khoảng 2 200 cây/ha. Kiểu rừng này tuy bị tác động bởi các hoạt động nương rẫy và khai thác chọn, nhưng đôi chỗ vẫn còn giữ tính nguyên sinh và có nhiều loài thú lớn sinh sống.

 

 

 

 

3.4. Hoạt động quản lý liên quan: Vùng này chịu sự quản lý và bảo vệ trực tiếp của bộ phận Kiểm lâm, Ban quản lý Khu BTTN Pù Hoạt và Uỷ Ban Nhân dân xã, huyện có rừng. Vùng lõi này đã được xác định rõ về địa giới hành chính, cũng như là chức năng của nó. Cần có một chính sách thích hợp để cải thiện điều kiện sống cũng như nâng cao nhận thức của người dân.


 







Bản quyền Vườn quốc gia Pù Mát
Địa chỉ: Xã Chi Khê, Huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An
Điện thoại/Fax: 038.3873374   Email: vqgpm@hn.vnn.vn
Website sử dụng giải pháp YoMedia Portal